Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009
Thời của những kẻ dối lừa
Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009
Lan man “tự chế”

Đầu tháng 8-2009, chiếc xe bánh mì “Ba Cô” đã bị công an An Phú “bắt”. Đó là chiếc xe có thùng kiếng đặt trên 2 bánh xe đạp gắn liền với bánh xe đạp phía sau bằng sườn sắt có yên ngồi. “Ba cô” không ngồi mà chỉ đẩy xe đi trên đường. Vài ngày sau, dân ăn bánh mì sành điệu ở quận Ninh Kiều (thành phố Cần Thơ) ngơ ngác khi nhìn Ba Cô có xe bánh mì mới, lạ hoắc, là chiếc xe có thùng kiếng hình chữ nhật đặt trên bốn bánh nhỏ cỡ chiếc dĩa tròn. Dù là xe mới nhưng Ba Cô không dám đẩy trên đường, chỉ để trong khuôn viên Nhà Văn hóa thiếu nhi quận Ninh Kiều. Bởi, chiếc xe mới cũng “sẽ tịch thu bán phế liệu, sung công quỹ” nếu “tham gia giao thông”, vì nó vẫn là xe “tự chế”.


Theo quy định, xe tự chế gồm các loại: xe ba gác, xe lôi đạp, xe lôi máy, xe đẩy…, từ ba bánh trở lên. Nói “xe tự chế” nhưng thực ra những chiếc xe này đâu phải ai cũng có thể “chế” được để sử dụng trong cuộc mưu sinh của mình. Mà, những chiếc xe này đã được bàn tay của khá nhiều người thợ của một xưởng cơ khí nhỏ, gọi là “tiệm sắt” sản xuất. Xưởng cơ khí này có giấy phép cơ quan chức năng cấp và đóng đủ các loại thuế cần thiết để được kinh doanh. Xe “tự chế” đã có mặt ở miền Nam Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay, góp phần tốt đẹp vào việc giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người, đóng góp công sức không nhỏ trong việc vận chuyển người và các loại hàng hóa.
Từ hàng ngàn năm qua, ghe xuồng đã có mặt trên khắp các sông ngòi, kinh rạch Nam Bộ, góp công rất lớn trong việc phục vụ đời sống người dân vùng châu thổ sông Cửu Long. Chúng được ra đời từ các “trại ghe”. Mà những trại ghe này chỉ đóng những chiếc xuồng, chiếc ghe theo kinh nghiệm truyền đời của ông bà với những người thợ làm việc lâu năm. Những trại ghe này đâu chỉ đóng những chiếc ghe đi sông, mà còn cung cấp cho con người những chiếc ghe to lớn, gọi là “tàu” chuyên chở hành khách, ghe chài chở lúa gạo, kể cả những chiếc “tàu cây” ra cả biển khơi đánh bắt hải sản… Theo quan niệm cơ quan chuyên ngành, đó vẫn là những chiếc ghe, chiếc xuồng “tự chế”.
“Tự chế” còn có mặt ở cả những chiếc cầu do những người nông dân “dốt nát” miệt An Giang xây dựng nhiều nơi bắc qua các con kinh rạch của nhiều địa phương. Những chiếc cầu xinh xắn, không biết có đúng kỹ thuật không nhưng chắc chắn vì thấy người và xe cộ qua lại hàng chục năm nay không bị sự cố gì. “Tự chế” còn thấy ở những con đường nông thôn bằng xi măng cốt thép. Những con đường nhỏ bé nhưng nhiều tiện lợi này đã giúp vực dậy vùng nông thôn sâu, nối liền nó với những thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố lớn, do những người “thợ hồ” một nắng hai sương đổ mồ hôi lao động làm thành chứ không do một kỹ sư cầu đường nào thiết kế, bắt tay thực hiện.
Hiểu theo cách đó, “tự chế” có mặt hình như khắp các “hang cùng ngõ hẻm” ở nước ta. Từ hàng bao nhiêu năm nay, báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình đã đưa tin, viết bài ca ngợi những “nhà sáng chế không bằng cấp”. Ta đã biết những anh “Hai Lúa” ở Tiền Giang chế ra dụng cụ bao và cắt trái cây chỉ cần đứng dưới đất mà không phải leo lên cây. Ta cũng biết ông Nguyễn Văn Lang chủ cơ sở Tư Sang ở khu phố Cầu Xéo (Hậu Thành, Cái Bè, Tiền Giang) đã từng nghĩ và làm ra chiếc máy gặt đập liên hợp. Ta cũng đâu thể quên ông Văn Đức Quynh người thôn Long Hưng (Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị) là người sáng chế máy tách hạt bắp mini. Không thể không nhắc tới nông dân Trịnh Văn Thành ở ấp Liên Hiệp 1 (Xà Bang, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu) đã thành công trong việc làm chiếc lò sấy ca cao. Rồi anh nông dân Hoàng Văn Chủ ở xã Quảng Hồng (Lạng Sơn) tuy mới học tới lớp 4 nhưng đã thiết kế ra máy xắt rau. Và, còn biết bao người “chân lấm tay bùn”, chữ nghĩa“khôngđầy lá mít”, không được đào tạo bài bản, chưa có lý thuyết về cơ khí và chế tạo máy, đã lao tâm khổ tứ bền bỉ chế tạo nhiều loại máy phục vụ bản thân, bán rộng rãi cho nông dân.
Nếu theo quan niệm nêu trên thì những chiếc máy góp phần làm tăng năng suất lao động, giải phóng sức người này chẳng qua chỉ là những chiếc máy “tự chế” vì không do một cơ sở quy mô sản xuất và có bản đồ thiết kế chi tiết mang tính khoa học của kỹ sư cơ khí. Tuy nhiên các loại thiết bị này vẫn được phép hoạt động vì không gây ra tai nạn như các loại xe “tự chế”. Nhưng quy trách nhiệm này cho xe “tự chế” là hơi quá đáng, bởi gây ra tai nạn giao thông chủ yếu là do ý thức người điều khiển phương tiện chứ đâu phải do phương tiện. Nhìn ra thế giới, xe “tự chế” vẫn chạy đầy đường, nhất là các nước châu Á. Xe lôi, xe ba gác tại các quốc gia này đâu có chở hàng “cao như núi” và chạy “bất kể chết” như ở nước ta.
--------------------
- Chiếc xe bánh mì, Nguyễn Ngọc Tuyết, Trà dư tửu hậu, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn số 35-2009, ngày 20-8-2009.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoadulich/vanhoa/22437/
Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009
Vu Lan Thắng Hội ở Cầu Kè
Trong cuốn “Chuyện Xưa Tích Cũ” của Sơn Nam - Tô Nguyệt Đình ghi: “Ở Chợ Lớn, TP.HCM, có ngôi chùa thờ Ông Bổn là quan Thái giám tên Trịnh Hòa. Ông làm quan vào đời vua Vĩnh Lạc (1403 - 1424) ở Trung Quốc. Lúc thăng quan, ông được vua tín nhiệm phái đi điều tra các nước ở miền Đông Nam Á như Chiêm Thành Mã Lai, Xiêm, Việt Nam... để tìm cách liên lạc với những người Hoa kiều hải ngoại. Tuân lịnh vua, lúc đi du hành, ông Trịnh Hòa cố gắng giúp đỡ dân chúng, ra sức thi ân bố đức, giúp giới Hoa kiều tìm sinh kế và dạy họ phải giữ gìn thuần phong mỹ tục ... Nên sau khi ông mất, giới Hoa Kiều nhớ ơn ông, thờ làm phúc thần. Nhà vua còn phong sắc cho ông chức tước “Bổn Đầu Công” tức Ông Bổn ngày nay”. Nhưng ở Cầu Kè lại thờ 4 ông Bổn khác. Theo dân địa phương, đây là 4 anh em kết nghĩa, thành thần. Minh Đức Cung thờ ông Nhứt, Vạn Ứng Phong Cung thờ ông Nhì, Vạn Niên Phong Cung thờ ông Ba và Niên Phong Cung thờ ông Tư.
Bốn chùa ông Bổn tại Cầu Kè đều là những ngôi chùa được xây dựng từ mấy trăm năm nay, do nhóm di thần nhà Minh đến tìm đất sống sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ. Ngôi chùa nào cũng được cất theo hình chữ “Quốc”, đặc biệt không có kèo, khuôn viên chánh điện có diện tích gần bằng nhau, khoảng 1.200 mét vuông, với gỗ, đá đem từ Trung Quốc qua. Đáng chú ý là các ngạch cửa đều được làm bằng những thanh đá xanh to. Hai bên tường trước chánh điện họa hình từ các tích Tàu, nêu tấm gương tiết nghĩa, nhân hậu ở đời. Hông tả chánh điện thờ Bạch Hổ. Hông hữu chánh điện thờ Thanh Long. Bàn thờ chính chánh điện thờ tượng ông Bổn. Tượng ông Bổn ở Vạn Niên Phong Cung được tạc vào khoảng năm 1960 bằng đoạn trầm hương thỉnh từ miền Đông Nam bộ về, do thợ Sóc Trăng đảm nhiệm, rất sinh động. Đây là pho tượng thứ hai của chùa, sau khi pho thứ nhất bị hư mục... Tất cả các công trình của chùa đều giàu giá trị văn hóa, giá trị cổ vật. Riêng Vạn Ứng Phong Cung, sau hàng trăm năm tồn tại đã xuống cấp trầm trọng. Từ rằm tháng Giêng Mậu Tý (2008), chùa đã được xây mới tiền điện và trung điện theo bản vẽ của kiến trúc sư Giang Thành Duy (Công ty Bình Điền, Sài Gòn). Phần chính điện giữ nguyên với tường gạch loang lở do cây bồ đề có bộ rễ to lớn đeo bám từ hơn nửa thế kỷ nay. Vạn Ứng Phong Cung vừa làm lễ lạc thành vào ngày 9-7 Mậu Tý (2008).
Sau đó, tại chùa liên tục tổ chức các buổi trai đàn có sự tham gia của các chư tăng ở Vạn Hòa Cổ Tự và sư sãi chùa Khmer trong phạm vi nội ô thị trấn. Lễ này cúng chay nên gọi là “làm chay”. Hội thì nhiều ngày, nhưng lễ chính thức diễn ra trong một ngày rưỡi, suốt ngày 27 đến trưa ngày 28 thì chấm dứt. Từ rạng sáng ngày 27, xe du lịch, nhiều nhất là xe đò 50-60 chỗ ngồi từ các nơi, đông nhất là quận 5, quận 6 (TP.HCM) lũ lượt đổ về, tạo thành nhiều hàng dãy dài dằng dặc đậu nối nhau trên dọc quốc lộ 54, các bãi đất trống. Các nhà trong phạm vi thị trấn có điều kiện đều chuyển sang buôn bán nước giải khát, cơm, cháo, còn không thì dọn dẹp gọn ghẽ cho khách phương xa tạm trú. Bỏ ra từ 10.000 đồng hoặc 20.000 đồng là người ta có nơi vạ vật qua đêm với chiếu và gối. Tiết kiệm thì cứ vào các chùa trong thị trấn cũng có chỗ nghỉ qua đêm mà không tốn tiền. Tiện nghi hơn thì thuê phòng máy lạnh với số tiền 300.000đ/ngày đêm. Dân lân cận có xe gắn máy đều trở thành xe ôm, hoạt động ì xèo. Đêm 27, đường phố nhộn nhịp tới sáng.
Vu Lan Thắng Hội đã kết thúc. Đây là dịp giữ gìn bản sắc văn hóa tâm linh người Hoa Triều Châu, góp phần phát huy bản sắc đa văn hóa của dân tộc Việt Nam, thể hiện tình đoàn kết gắn bó keo sơn của cộng đồng ba dân tộc ngụ cư lâu đời tại địa phương là: Kinh, Hoa và Khmer, dạy con người yêu thương nhau, hiếu kính ông bà cha mẹ... Vu Lan Thắng Hội vừa mới được Trà Vinh công nhận là lễ hội văn hóa dân gian tâm linh cấp tỉnh. Tuy nhiên, so với nhiều thập niên trước, Vu Lan Thắng Hội ở Cầu Kè hiện nay chỉ còn diễn ra được một phần nhỏ. Bởi, xưa kia, lễ hội này còn có cảnh ông Bổn tắm dầu (dầu phộng nấu sôi, dùng ngọn lá tre nhúng vào rồi quất vào người), ông Bổn đi trên than hồng (than đước cháy đỏ trải dài chục thước), ông Bổn ngồi kiệu gươm (như kiệu thường nhưng chân đạp, lưng tựa và ghế ngồi đều được thiết kế mỗi vị trí ba thanh gươm bén ngót để ngửa, riêng ghế ngồi có 4 thanh và 2 tay vịn mỗi tay 1 thanh gươm) khiêng dài theo đường phố, ông Bổn ếm ma da, ông Bổn đi thuyền trừ thủy quái...
Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2009
Bảy Bờ Kè
Theo một trong các con đường tráng xi măng sạch sẽ của quán, khách sẽ chọn cho mình một chiếc tum ưng ý. Quán có 13 tum nhỏ, 1 tum dài (5 bàn) cùng 2 phòng lạnh (10 khách/phòng). Tum lá dù nhỏ hay lớn cũng đều được lợp bằng lá dừa nước xé, nền lót gạch tàu, đơn giản nhưng thanh lịch, cất trên một bờ mương nước. Các mương nước nào cũng lấm tấm màu xanh biếc của bèo hoa dâu, màu xanh ngọc của những đám lục bình dân dã. Bên dưới màu xanh dịu mắt đó, bên dưới làn nước êm ả đó, là nơi cư ngụ của những bầy cá đồng. Các tum và mương nước “chìm” trong không gian yên ả của những tàn cây ăn trái, gồm: mận, xoài, sầu riêng...
Yên vị rồi, khách có thể thư thả chọn cho mình và gia đình (hoặc bè bạn) những món ăn yêu thích trong bảng thực đơn khá phong phú của quán. Theo đó, quán có các món, đầu tiên là khai vị, với: các loại khô: cá lóc, cá khoai, cá đuối, mực, giá từ 40.000 – 50.000 đồng/dĩa; đặc biệt chả giò Bảy Bờ Kè 40.000 đồng/dĩa. “Bộ” gỏi gồm có: gỏi so đũa tôm sú thịt; gỏi bồn bồn tôm sú thịt; gỏi ngó sen tôm sú thịt, gỏi bò bóp thấu, gỏi hải sản bồn bồn; tất cả chừng 50.000 đồng/dĩa. Đặc sắc là “bộ” đặc sản Gò Công, với: bắp kèn bò chấm mắm tôm chà, 65.000 đồng/dĩa; ba rọi luộc chấm mắm tôm chà, 55.000 đồng/dĩa; ba rọi chiên giòn chấm mắm tôm chà, 55.000 đồng/dĩa; lẩu mắm tôm chà Nam bộ, 150.000 đồng/lẩu. Mắm tôm chà là đặc sản độc đáo của xứ Gò Công (Tiền Giang) từ thế kỷ thứ 19, chế biến từ thịt tôm bạc đất, được người dân địa phương sản xuất dùng trong gia đình. Muốn có mẻ mắm tôm chà đặc sắc, thơm ngon như ý, người làm mắm phải trải qua nhiều công đoạn rất kỹ càng và công phu, nếu sai sót một công đoạn nào, mắm sẽ hư ngay. Đức bà Từ Dụ mẹ vua Tự Đức là con dân đất Gò Công nên rất ưa thích mắm tôm chà. Tại kinh đô Huế, tự tay bà làm loại mắm thơm ngon bổ dưỡng này cho vua thưởng thức. Vì vậy mắm tôm chà thuở ấy là một trong 52 món cung đình được vua chuyên dùng. Ngày nay, các thức ăn có sự hiện diện của mắm tôm chà hình như chỉ duy nhất được quán Bảy Bờ Kè đưa vào thực đơn. Sau khi thưởng thức các món ngon vật lạ, khách có thể kêu mấy món ăn không ngán, như: đậu hũ chiên giòn, 30.000 đồng/dĩa; đậu hũ tay cầm Tứ Xuyên, 40.000 đồng/dĩa; đậu hũ tay cầm hải sản, 40.000 đồng/dĩa; cà phổi nướng mỡ hành, 20.000 đồng/dĩa; rau muống xào tỏi, 20.000 đồng/dĩa...
Dù thưởng thức “sơn hào hải vị” gì đi nữa, khách cũng nên thưởng thức ba đặc sản “số một” của quán. Trước hết là khai vị lai rai với dĩa gỏi rau lang luộc. Rau lang luộc là món ăn hết sức phổ thông trong gia đình, nhưng dưới bàn tay điệu nghệ của người đầu bếp, quán đã “chuyển mình” nó thành món nhậu hết sức “bắt”. Rau luộc sơ trộn với nước sốt được pha chế “bí truyền” sẽ khiến cho món ăn này có hương vị độc đáo. Gắp một đũa rau, chấm nước mắm nhĩ giằm ớt, ăn một miếng, khách sẽ cảm nhận các vị chua ngọt cay vừa phải cùng vị giòn dai của rau đang “tan” trong răng. Càng nhai càng khiến đũa trong tay khách hoạt động liên hồi! Tiếp theo là món cơm cháy ăn với cá kho quẹt. Món ăn nhà nghèo hồi xưa bây giờ trở thành món ăn thời thượng, là đặc sản trên thực đơn nhiều nhà hàng trong cả nước. Vừa “dằn bụng” với hai món này, khách vừa lai rai cùng bè bạn quanh ly rượu. Lâng lâng men say, khách thưởng thức món “trứ danh” của quán: gà nấu chanh ớt. Húp miếng nước lẩu múc ra chén, khách sẽ nghe sảng khoái dâng tràn khắp các giác quan, bao nhiêu ngầy ngật của men rượu hầu như tan biến trong vị chua của chanh và vị cay của ớt hòa vị ngọt thịt gà. Ăn kèm với lẩu là rau quế nhúng. Vừa uống rượu thơm, vừa ăn miếng ngon, vừa lắng nghe tiếng đờn hòa cùng giọng ca của ban nhạc tài tử, tưởng cuộc đời chẳng gì thi vị và đáng sống hơn.
Đến với quán ăn sinh thái Bảy Bờ Kè, ai cũng thắc mắc cái tên “quái quái”. Hỏi, thì ra do quán tọa lạc bên bờ rạch được kè đá. Tết này, khi “tiếng lành bay xa, quán ăn sinh thái Bảy Bờ Kè sẽ là điểm đến của người sành ăn không chỉ khu vực Bình Phó B, mà còn là của người dân quận Ninh Kiều.
Bài, ảnh: PHƯƠNG KIỀU








