Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Thanh trà vàng cam màu nắng phương Nam


Thanh trà vàng cam màu nắng phương Nam

Năm nào cũng vậy, cứ sau Tết Nguyên đán, dài theo hai bên đường dẫn lên cầu Cần Thơ (phía TX Bình Minh, Vĩnh Long) là khách qua đường thấy lạ. Họ vui mắt với những chùm trái thanh trà vàng cam màu nắng treo lủng lẳng dưới những tán dù, đung đưa trong cơn gió chướng phần phật thổi. Và màu vàng gợi cảm của những chùm trái cây nhiệt đới nầy hình như giúp họ dịu đi cơn khát trong ánh nắng rực rỡ của những ngày gay gắt nắng.

Càng vào sâu mùa trái thanh trà (khoảng đầu tháng 3 âm lịch), người ta treo bán trái cây đặc sản của TX Bình Minh dài theo quốc lộ 54, từ ấp Phù Ly (TX Bình Minh) đến khỏi thị trấn Trà Ôn (Trà Ôn, Vĩnh Long), qua cả TP Cần Thơ. Sáng cũng như chiều tối, hai bên đường lúc nào cũng lủng lẳng những chùm trái thanh trà mời gọi, “hút hồn” khách qua đường. Tuy nhiên bán đậm đặc nhất vẫn là khu vực xã Đông Bình, nhất là xã Đông Thành. Đông Thành có 40 ha đất nông nghiệp, mà diện tích trồng thanh trà chiếm đến phân nửa, từ ấp Đông Hưng đến ấp Đông Hòa và Mỹ Hòa, nhưng nhiều nhất là ấp Đông Hưng 2. Có dịp ngang qua đây, tưởng cũng nên vào thăm những khu vườn thanh trà um tùm dọc theo bờ sông Hậu. Tuy nắng gay gắt nhưng vào đây, người ta được hưởng bầu khộng khí dịu mát. Trước mắt là những tàng cây xanh đậm, chi chit những trái thanh trà vàng cam treo lủng lẳng gọi mời. Bạn sẽ được chủ vườn mời thưởng thức ly nước thanh trà giải khát và nghe họ kể nguồn gốc loại cây đặc sản địa phương nầy. Theo đó, ngày xưa, nhà ông cả có mấy cây thanh trà chua. Người quen thấy cây lạ, có trái đẹp, xin giống về trồng. Mấy năm sau cây ra trái, thương lái Sài Gòn đi ngang thấy trái màu đẹp mắt, hỏi mua. Rồi từ đó loại trái cây nầy trở thành sản phẩm ngày càng phát triển, bán cả Sài Gòn...


Theo Dược sĩ Phan Đức Bình (Tạp chí Thuốc & Sức khỏe, số 331, ngày 1-5-2007) thanh trà là cây mọc hoang, người xưa gọi xoài hoang dại (Wild Mango), tên khoa học Bouea Oppositifolia (Roxb.) Meissn., tên cũ Mangifera Oppositifolia Roxb, cùng họ Anacardiaceae với cây xoài. Vì giống trái xoài nhưng lớn cỡ ngón chân cái, nên dân Đông Thành gọi xoài mút (khi ăn phải mút) hay xoài hột (vì hột to).

Từ một loại cây hoang dã, thanh trà đã được thuần chủng thành cây ăn trái hấp dẫn. Trái thanh trà khi ăn phải vò mềm, lột bỏ vỏ, chấm muối ớt. Nếu làm nước giải khát thì vò xong, dằm trong ly với đường cát, dằn chút muối hột, cho nước sôi để nguội vào, quậy đều. Người ta còn dùng  thanh trà làm gia vị trong món ăn. Vị chua thanh của trái hơn hẳn vị chua của các loại cây trái khác, hơn cơm mẻ, hèm…, khiến thịt cá chua có mùi thơm dịu, nhất là nước của nó húp một cái “đã thần hồn”! Người ta còn dùng trái thanh trà làm thành mứt, dành cho khi mùa trái chấm dứt vào cuối tháng ba âm lịch. Theo y lý, thanh trà có tác dụng ngừa và trị các chứng bệnh: cao huyết áp, người có thể trạng suy nhược, người bị bệnh nan y, đặc biệt bệnh ung thư. Được như vậy nhờ thanh trà có chứa nhiều beta carotene, vitamin nhóm B, các hoạt tính chống oxy hóa, acid ascorbic, các acid amin, enzym, bioflavonoids, giàu khoáng chất như crome, kali, magne...

Có xuất xứ từ Phú Quốc nên thanh trà được bán ở ngã ba Rạch Sỏi (Kiên Giang). Đặc biệt, ở Phú Quốc  người ta gọi thanh trà là sơn trà vì nó mọc trên núi cao. Tại hòn đảo ngọc nầy, gốc rễ và cành nhánh sơn trà già được “nghệ nhân” Nguyễn Văn Dũng ở Bãi Thơm chế tác thành những chiếc giá võng. Tùy giá võng lớn hay nhỏ, giá dao động từ 7 triệu đồng đến 16 triệu đồng. Sản phẩm “độc lạ”, “không đụng hàng”, “ác phẩm nghệ thuật” nầy của ông Dũng đều được các “đại gia” đất liền ưa thích. Giá mắc như vậy vì loại cây nầy không bị mối mọt xông. 

Giá võng sơn trà – hàng “độc”


Thanh trà đầu và cuối mùa luôn cao giá. Năm 2015, nhà vườn Đông Bình đúc kết giá 1kg thanh trà bằng giá 10kg lúa. Nhưng năm nay giá đó “rớt hàng”, dao động từ 60.000 đồng/kg đến 70.000 đồng/kg, vì mùa trái “thất”. Thanh trà có hai loại: chua và ngọt. Giá thanh trà ngọt cao hơn thanh trà chua chừng 10.000 đồng/kg đến 15.000 đồng/kg. Giữa mùa, giá thanh trà thấp hơn đầu và cuối mùa.





Thứ Hai, 21 tháng 3, 2016

Cánh diều tuổi thơ




        “Tháng giêng ngắm trẻ thả diều/Lòng nghe sống lại ít nhiều tuổi thơ” là hai câu thơ chân chất, của nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà mà tôi thuộc nằm lòng từ lâu. Vì vậy, khi, sau những ngày Tết Nguyên đán sum vầy, nắng chang chang và gió phần phật, tôi “sống lại” tuổi thơ của mình khi ra ngoại thành, nơi có những mảnh đất rộng. Bước chân trên nền cỏ héo vàng, tôi nghe âm thanh vui nhộn của những đứa trẻ reo lên với ánh mắt ngóng cao nền trời, nơi có nhiều cánh diều no gió tung bay tạo những niềm vui. Tôi nhớ về miền quê xa.

        Đó là mảnh đất nằm bên nhánh nhỏ sông Hậu hiền hòa. Nơi, sau những ngày làm ăn vất vả, buổi chiều tháng giêng, ba tôi thường thư giãn cùng tôi qua cánh diều lồng lộng gió chướng. Tôi cầm con diều giấy, tung tăng nhịp theo bước chân ba qua con phố nhỏ, đến sân vận động địa phương. Lúc đó, trên nền cỏ xanh đã có nhiều người – cả người lớn và trẻ nhỏ – đang vui vầy với những cánh diều dễ thương của họ đang đùa vui trong gió. Ba tôi cầm con diều tự làm mấy ngày trước trong tay, nghiêng nghiêng cánh diều, chạy lấy trớn rồi nhẹ nhàng buông tay cho nó vút lên từng không. Con diều uốn éo làm duyên, càng lên cao càng đằm lại, lượn lờ hai chiếc đuôi như hai mảnh tơ phất phơ trong gió, trong ánh nắng chiều vàng vọt dần tắt phía chân trời xa. Tôi cầm sợi nhợ chắc trong tay, sợ nếu lơ đãng sợi nhợ vuột khỏi tay, cánh diều sẽ bay mất. Niềm vui của tôi dâng cao theo cánh diều trên không trong khi sợi nhợ được từ từ thả khỏi cuộn một cách cẩn trọng. Vậy mà cánh diều có lúc cũng đành đoạn lìa khỏi tay tôi khi sợi nhợ đứt bất ngờ. Cánh diếu băng, lảo đảo như người say rượu trong cơn gió giật! Tôi khóc nhìn theo diều rơi xuống một nơi xa không thể lượm lại được!

        Thấy tôi buồn, ba tôi làm cho tôi một con diều khác mà người gọi là con thửng. Con thửng lớn hơn con diều nên cần có sườn tre lớn, phất giầy dầy hơn, nhất là sợi nhợ phải lớn và chắc hơn. Kỳ công hết mấy buổi chiều, ba tôi mới hoàn thành con thửng. Ba dẫn tôi ra sân vận động rồi thả con thửng lên không trung. Hết chao dảo, rồi lượn lờ như e thẹn, con thửng mới bắt đầu đằm cánh giữa trời cao lộng gió. Nó êm ái với hai chiếc đuôi dài thượt lửng lơ phất nhẹ trên nền trời. Nhưng điều hấp dẫn nhất là trong ngọn gió chướng, từ con thửng của tôi phát ra những âm thanh êm dịu, lúc véo von, khi cao vút. Đó là những âm thanh mà người ta gọi là tiếng sáo diều. Tiếng sáo diều của tôi khiến cả sân vận động ai cũng đắm mình lắng nghe thích thú. Tiếng sáo diều đó đến nay vẫn còn trong tôi. Nhất là những cánh diếu tuổi thơ đến nay vẫn còn với tôi trong những buổi chiều “tháng giêng kéo dài”, khi mùa nắng và mùa gió chướng vẫn còn, lúc tôi vui diều cùng những đưa cháu thơ của tôi trong những buổi chiêu nhạt nắng ngoại ô thành phố. ●


Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Một đêm với “vua đầm”



“Vua đầm” là tên phóng viên Hãng phim truyền hình TPHCM (TFS) ”tặng” ông Nguyễn Văn Hùng (Hai Hùng) - người có nhiều nhà chòi, người làm du lịch homestay duy nhất trên đầm Thị Tường 

Đầm Thị Tường là hồ nước tự nhiên lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long, còn được mệnh danh “Biển Hồ giữa đồng bằng”, rộng nhất 3km, dài 10km, diện tích mặt nước khoảng 700ha. Đầm được bồi lắng bởi phù sa sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc cùng nhiều kinh rạch của ba huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Cái Nước (Cà Mau). Tọa lạc giữa hai huyện Phú Tân và Trần Văn Thờ, đầm có ba đầm chính: đầm Trong, đầm Giữa và đầm Ngoài, nối với con sông tiếp quốc lộ 1A, sông còn lại chảy ra vịnh Thái Lan. Trong ba đầm, đầm Giữa lớn nhất, như trái bóng phình hết cỡ. Trên đầm có khoảng 20 chòi lớn nhỏ - nơi ngư dân canh thu hoạch cá tôm mà họ đặt chà, đáy nhỏ, nò, đó…, nằm giữa mênh mông trời nước...

“Vua đầm” Hai Hùng giới thiệu lú đựng ghẹm
sẽ tặng anh bạn trong đoàn chúng tôi


Ông Hai Hùng, người có nhiều chòi nhất trên đầm Giữa, trong đó có một chòi lớn nhất. Vì lớn nhất (10mx20m) nên người ta gọi “nhà nổi trên đầm”, hoặc “thủy biệt thự”. Trong nhà có đủ tiện nghi vật chất, thậm chí còn có chiếc xuồng cũ trồng rau cải, có chuồng heo, gà, vịt. Chúng tôi đến “thủy biệt thự” bằng mấy chiếc vỏ (vỏ lãi) do các con Hai Hùng vô “bờ” đón, và thích thú hòa mình vào cuộc sống vừa hoang sơ vừa khá hiện đại của cái ông “Robinson” giữa “hoang đầm" nầy.

Hai Hùng là một người cao lớn, râu mép hơi rậm, nói cười hệch hạc y chang người miền Tây cũ bây giờ hiếm gặp. 51 tuổi, cách đây khoảng 30 năm, ông đưa vợ ra đây cất chòi “độ nhựt” bằng tôm cá dưới mặt nước đầm. Mùa nào loại nấy, ngác, chẽm, nâu, đối, ghẹ, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua, ghẹm..., ê hề. Chúng, qua nhiều năm tháng, giúp Hai Hùng cũng như nhiều ngư dân khác trên đầm trở thành những người giàu có. Hai Hùng nói tháng 9 ghẹm nhiều vô kể, chạy máy chém văng xác ghẹm đầy vỏ, là nguồn phân, nhiều năm trước. Bây giờ, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cho biết: “Ở đầm, vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi. Ở đầm người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy”. Vô mùa ghẹm, dở dở cũng có được năm bảy trăm ký một ngày.

"Thủy biệt thự”trong chiều tà

Hai Hùng lái vỏ đưa chúng tôi dạo quanh đầm. Buổi chiều, mặt trời dần xuống thấp phía biển Tây, những tia nắng hấp hối đỏ sẫm lan tỏa những vệt lấp lánh mặt nước gơn sóng không gì đẹp bằng. Mấy ngư dân trầm mình trong làn nước lạnh, nhô đầu lên, thu hoạch thủy sản nhìn Hai Hùng chào nói rổn rảng. Hai Hùng nói mùa khô nước ngang ngực, mùa mưa, cao nhất trên dưới 1,6m. Hai Hùng cho biết cá ở đây lớn lên ra biển rồi trở về theo quy trình thủy sinh... Né tránh những hàng cọc tre hàng hàng lớp lớp nhô trên mặt nước, Hai Hùng bảo đó là khu nuôi sò của những tỷ phú Kiên Giang đến mướn mặt nước. Họ mua sò giống vụt xuống, đạp xuống sình, quây giữ bằng lưới mành. 

Vỏ chạy hết đầm mất hai tiếng đồng hồ chuyến tham quan lý thú với chúng tôi, khách thành thị. Nhưng khi về nhà Hai Hùng lại là một điều kỳ thú khác với trên sàn ván đước trải tấm nylon lớn rộng ê hề những món ăn chế biến từ thủy sản nước pha chè đầm Thị Tường. Nào canh chua cá ngác. Cá ngác kho. Ghẹm rang me. Bánh tôm tích chiên. Tôm thẻ đầy tú hụ một dĩa lớn. Một dĩa bự đầy nhóc những con cua yếm vuông – đặc sản chỉ có tại đầm. Chính những con cua nầy đã khiến chúng tôi mê mệt. Thịt chắc, ngọt ngon, không khai, ăn hoài không chán. Rồi tôm thẻ. Con nào con nấy lớn cỡ ngón tay cái. Ăn chưa kịp hết, con Hai Hùng đổ một dĩa lớn đầy... tiếp mồi! 

Dạo chơi trên đầm bằng vỏ lãi


Trong câu chuyện tầm tình nhiều lý thú, Hai Hùng cho biết đầm có tên chính là Bà Tường, theo truyền thuyết bà là người tiên phong khai thác đầm nầy, nên người ta kính trọng gọi đầm Bà. Về sau, gọi đầm Thị Tường. Nằm giữa đồng bằng nên đầm chiếm một vị trí môi trường sinh thái vô cùng độc đáo với vẻ hoang sơ bốn bề là những rặng dừa nước vươn cao ngọn lá lên trời, cho nên người ta còn gọi đầm Dừa Nước. Hào hứng với câu chuyện, uống rượu đế không đã, Hai Hùng vô buồng ôm hũ rượu pha mật ong rừng ra. Chị Hai Hùng, Dương Thị Lụa, thố lộ mật nầy do con chị đi “ăn” quanh rừng dừa nước ven bờ. Uống một ly rượu mật ong, thịt cua, thịt tôm... hầu như bay biến, đặc biệt cái lạnh của những ngày cuối năm, của những ngọn gió trời lồng lộng xuyên đầm chẳng hề hấn gì. Vui miệng, Hai Hùng kể, có đoàn khách Hàn Quốc do Nguyễn Ngọc Tư đưa ra chơi, uống rượu nầy khoái quá, “quá hớp”, bước xuống vỏ, té. Tuy “tắm bùn” dơ hầy nhưng anh ta vẫn cười vui hí hửng. Nói về Nguyễn Ngọc Tư, vợ chồng Hai Hùng rất thân mật, gọi ”Bé Tư”. Họ cho biết, trong năm 2013, “Bé Tư” đã đưa 12 đoàn đến tham quan, ăn nghỉ tại đây. Chúng tôi là đoàn thứ 13 do “Bé Tư” giới thiệu. “Bé Tư” không theo được vì nhằm ngày chủ nhật mắc ở nhà giữ con. 

Đêm dần buông. Nhằm ngày rằm, mặt trăng dần lên, tỏa những tia sáng yếu ớt nhưng kỳ ảo xuống đầm, là một cảnh quan cực kỳ khả tú. Chúng tôi ngắm trăng, uống rượu, thưởng thức mồi bén, nhưng chẳng ai “rớ” tới tô canh chua cá ngác và tô cá ngác kho, dù cả hai đều rất ngon. Ánh trăng càng lúc càng vằng vặc. Câu chuyện tới khuya rồi cũng tàn. Chúng tôi chìm trong giấc ngủ ngon trong căn “thủy biệt thự” có nhiều cửa nhưng không cửa nào có cánh. 

Chòi lá canh lú, dớn, lọp,lưới... khai thác thủy sản trên đầm

Chưa rạng sáng chị Lụa lo nấu một chảo cháo với tép thẻ phục vụ cái dạ dầy của chúng tôi. Tô cháo ngon, ly trà thơm càng ấm bụng. Chúng tôi “bàng hoàng” khi thấy những tia nắng ban mai yếu ớt rọi màu đỏ hoang sơ vào nhà. Nhìn ra. Buổi sáng tinh mơ, mặt nước đầm trong vắt như pha lê. Trong chốc lát, những rạng mây ngang đầu ngày nhuộm mặt nước đầm một màu hồng phấn, không họa sĩ tài ba nào có thể phối nổi. Mặt trời ló dạng, sương sớm tan dần, những vệt sáng đỏ ban mai lăn tăn gờn gợn khắp mặt đầm, cảnh quan càng thêm kỳ ảo. Chia tay, vợ chồng Hai Hùng bịn rịn. Chị Lụa “tức tối” trách sao ra đây không cho hay trước để chuẩn bị “đồ đạc”, nhất là mắm. Mắm ở đây ngon nhứt hạng, chỉ cần hé cái nắp đậy một chút đã nghe thơm lừng lựng mũi, như “Bé Tư” khen. Cô ấy còn nói “cái xứ ngộ, con người nhiệt tình, chưa kịp nói gièm thì đã dúi vào giỏ biểu mang về rồi”. Anh bạn tôi khoái món ghẹm rang me, hỏi mua, Hai Hùng tặng đem về ăn “lấy thảo”... 

Homestay nhà Hai Hùng một chiều, một đêm và rạng sáng, mỗi người chỉ tốn có 200.000 đồng. Rẻ rề. Nhiều đoàn khách ra đây, ngoài khách “Bé Tư”. Hỏi tại sao, Hai Hùng tâm sự người ta ra chơi, về post lên mạng, đồn đãi riết thành điểm du lịch sinh thái thứ thiệt như vầy. ●


■■■■■■■■■■■■■■■■■


Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

“Thơ là một nhu cầu tinh thần, không thể gượng ép”






PHAN HOÀNG


Từ tình yêu đối với bậc tiền bối Bình Nguyên Lộc ở đất đỏ miền Đông, chàng văn trẻ gốc Hoa ở miền sông nước Diệp Ngọc Sơn đã lấy bút danh Phù Sa Lộc và trở thành một trong những thi sĩ khá đậm chất Nam Bộ trên thi đàn mấy mươi năm qua. Giống như vùng Cửu Long quê hương, giọng thơ Phù Sa Lộc mênh mang, da diết. Đọc thơ Phù Sa Lộc, ta như có thể “ngửi” được mùi đất mới ở phương Nam. Cùng với các nhà thơ gốc Hoa nhiều thế hệ như Hồ Dzếnh, La Quốc Tiến, Dư Thị Hoàn… Phù Sa Lộc đã góp phần làm phong phú thêm nền thi ca Việt Nam


- Thưa ông, là một người gốc Hoa, vậy ông có gặp hạn chế gì khi tiếp xúc với nền văn hóa Việt Nam cũng như trong quá trình sáng tác?

- Ông cố tôi từ Triều Châu, Quảng Đông, di cư sang Nam Bộ từ thế kỷ XIX. Cha mẹ tôi đều gốc Hoa. Còn tôi, tiếng là gốc Hoa nhưng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, sống chan hòa ở một thị trấn Việt – Hoa - Khmer, tôi tự xem mình là một người Việt Nam, nên quá trình sáng tác chẳng có gì khó khăn.

- Những nhà văn gốc Hoa đương đại nào theo ông là đáng chú ý?
- Trước đây có bậc tiền bối Hồ Dzếnh, sau này có Lý Lan, La Quốc Tiến.

- Ông vốn họ Diệp, lấy bút danh họ Phù, nghe cũng rất lạ. Có giai thoại rằng vì yêu mến nhà văn Bình Nguyên Lộc mà ông lấy bút danh Phù Sa Lộc?
- Tôi vốn rất thích văn chương Bình Nguyên Lộc. Truyện ngắn của ông tinh tế, nhẹ nhàng, khoái nhất là văn phong Nam bộ. Vì vậy tôi mới lấy bút danh có chữ cuối trùng với bút danh ông. Tuy nhiên, ý nghĩa hai chữ Lộc khác nhau. Bình Nguyên Lộc là con nai của bình nguyên miền Đông, còn Phù Sa Lộc là chồi lộc, cái tốt đẹp của phù sa châu thổ sông Cửu Long. Tôi được sinh ra và chịu ơn vùng đất này quá nhiều.

- Ngoài Bình Nguyên Lộc, còn nhà văn nào của Nam Bộ mà ông thích?
- Tôi cũng rất kính nể Sơn Nam, một cây đại thụ khác của văn chương Nam Bộ. Có thể nói, nhờ sự lôi cuốn từ tác phẩm của hai bậc tiền bối Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam mà tôi “sa” vào văn chương.

- Thích truyện của hai “lão trượng” ấy nhưng vì sao ông lại làm thơ?
- Đúng là một nghịch lý. Từ năm 1964 tôi đã có truyện ngắn đầu tiên đăng ở báo Tia Sáng của Sài Gòn, rồi sau đó là các tờ Tiểu thuyết thứ năm, Chọn lọc… Nhưng viết truyện mãi vẫn không nổi bật, trong khi thơ tôi lại được bạn bè và độc giả chú ý. Vậy là tôi “chuyển tông” sang “nàng thơ”. Dù vậy thỉnh thoảng hứng lên tôi vẫn viết truyện.

- Hơn 30 năm gắn bó với “nàng thơ”, ông mới cho ra đời hai tập “Thơ tình tuổi bốn mươi” và “ngọn khói”. Thật quá khiêm tốn. Vì sao ông in ít như vậy? Nhìn lại chặng đường thơ của mình, ông tự đánh giá ra sao?
- Cha tôi vốn là một thương gia. Tôi là con út, được hưởng gia tài, nhưng không có duyên làm ăn, mà lại có vẻ yêu thích văn thơ. Đối với tôi, văn chương ngoài sự giải tỏa còn là một nghề kiếm sống qua ngày. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, tôi không thể có thơ ưng ý để in nhiều hơn những gì đã có. Tôi cảm thấy thơ mình đạt một số thành công nhất định, nhất là cảm xúc về thời khẩn hoang được gợi hứng từ Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Còn hiện tại, tôi thấy thơ mình đã “xưa” lắm rồi.

- Mỗi thi sĩ thường có một quan niệm riêng về thi ca. Với ông quan niệm về thơ có gì đặc biệt?
- Thơ là một nhu cầu tinh thần, không thể gượng ép. Thơ nó tự đến, buộc nhà thơ phải làm, phải đắm chìm trong thế giới sáng tạo. Còn trong thực tế, có khi thơ là một phương tiện kiếm sống. Tôi cũng từng rơi vào trường hợp đau lòng đó và rất lấy làm mắc cỡ.

- Có lúc nào ông dự định lìa bỏ “nàng thơ” không? Thơ ông nhận được phản ứng ra sao từ phía bà nhà?
- Nhiều lúc tôi nghĩ, giá có kiếp sau thì nhất định tôi không những không làm thơ nữa, mà còn không thèm lai vãng đến thế giới… cầm bút. Nhưng, như tôi đã nói, thơ là một nhu cầu tinh thần, không viết không được. Vợ tôi không chỉ là người “đỡ đầu” cho “chàng thơ” mà còn rất quý bạn bè văn nghệ của tôi.

- Là nhà thơ khá hiểu biết về thơ đương đại của đồng bằng sông Cửu Long, theo ông, những nhà thơ nào thực sự giữ được cái chất miền sông nước này?
- Riêng với đồng bằng sông Cửu Long, làm được thơ “đặc chủng” về vùng đất mới này thật khó. Đọc ca dao, dân ca miệt vườn thấy rất sâu sắc, nhưng khi chạm ngòi bút tới thì thấy khó làm sao. Rất vui vì có thơ Thu Nguyệt biểu hiện được chất Nam Bộ.

- Ông có cảm thấy sự khác biệt nào trong đời sống văn chương giữa miền Tây Nam Bộ với các miền đất khác?
- So với miềm Bắc hay miền Trung, tôi thấy một người viết văn có nét ở miền Tây ít có cơ hội được giúp đỡ, nâng lên. Mà họ phải trải qua một quá trình phấn đấu tự lực và công phu. Người Nam Bộ nói chung thường coi văn thơ là thú chơi tao nhã, ít chịu phấn đấu, nên thành tựu khiêm tốn.




***

Mấy năm gần đây, nhà thơ Phù Sa Lộc không chỉ sống bằng văn chương nữa, ông đã có thêm một nghề mới: nghề báo. Trở thành phóng viên văn hóa cho nhật báo Cần Thơ khi tuổi đời đã ngũ tuần nhưng Phù Sa Lộc vẫn tỏ ra sung sức. Ông đọc nhiều, đi nhiều, viết nhiều. Nghề báo giúp ông ổn định việc mưu sinh, đồng thời cũng là một trong những “bệ phóng” cho sáng tác của ông, khi được cập nhật thông tin và có điều kiện đi xa, đi sâu vào vùng đất “chôn nhau cắt rốn”.



Mùa thu năm ngoái – 2001, khi đoàn nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đi thực tế biên giới tỉnh An Giang, “quá giang” một đêm Cần Thơ, nhà thơ Phù Sa Lộc cũng không bỏ qua cơ hội “tháp tùng” đoàn và trở thành một “thành viên” xông xáo nhất. Ông rủ chúng tôi sục sạo ngọn núi lịch sử Tức Dụp, đếm từng vết máu còn sót lại ở nhà mồ Ba Chúc, đi tìm những bến xe ngựa thồ ở thị trấn Tri Tôn mà có lẽ cũng là những chiếc xe ngựa cuối cùng của miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt, khi đoàn nhà văn ngủ đêm ở Suối Vàng, một điểm du lịch nằm cheo leo trên núi, nhà thơ Phù Sa Lộc không chịu “ngả lưng” mà tiếp tục cùng tôi và các nhà thơ “thổ dịa” Phạm Nguyên Thạch, Hồ Thanh Điền, Trương Công Thuốt đi thực tế vùng núi rừng biên giới này. Rồi tình cờ, bên một quán “cóc”, chúng tôi được tiếp xúc với một cô chủ quán khá xinh đẹp lại ăn nói có duyên, vì thi đại học rớt mà về đây lấy chồng, mở quán sinh nhai. Nhìn sơn nữ An Giang, tôi chợt nhớ đến “hải nữ” Kiên Giang trong thơ Phù Sa Lộc. Tôi đọc:

Hải Tiên, Hải Tiên nàng ơi Đêm Kiên Giang mời nàhg lên ngôi Đêm bao la giọt trời tinh khôi Đêm long lanh giọt tình xa khơi Nàng bên ta, cùng ta, chơi vơi

Không biết sau chuyến đi ấy, nhà thơ Phù Sa Lộc có viết bài thơ nào về sơn nữ An Giang không? Tôi không tiện hỏi. Nhà thơ cũng không nhắc tới. Chỉ biết rằng, sau một năm gặp lại nhau ở Cần Thơ, trông nhà thơ có vẻ còn “phong độ” hơn. Hy vọng giữa công việc báo chí bộn bề, thi sĩ đáng quý của xứ miệt vườn này không quên “nàng thơ” vốn cùng mình lênh đênh khắp miền sông nước.

(Tuần báo Sài Gòn Thứ Bảy số 609 – 2-11-2002, trang 32-33)

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

“Gió bụi” Tây Nguyên – miền Trung

Đoàn nhà văn TP Cần Thơ vừa tổ chức chuyến đi thực tế sáng tác tại một số tỉnh Tây Nguyên – miền Trung với 19 anh chị, do nhà thơ – nhà văn Lê Minh Phán làm trưởng đoàn, nhà văn – nhà thơ Phương Huy (tác giả văn bia Đồ Chiểu) phó đoàn. Xin ghi lại một vài kỷ niệm trong chuyến đi gọi là giúp vui bạn đọc.


Lạc đường vào Phước Long và…
Rời Bình Dương, xe “ngon trớn” đi vào Phước Long (Bình Phước). Ghé quán cà phê vừa nghỉ ngơi giải khát vừa hỏi đường đi Ban Mê Thuột. Vậy là phải lộn ngược mấy chục cây số đường nên tới Buôn Ma Thuột đã tối lắm rồi, khiến cô nhân viên của Hội Văn nghệ Đăk Lăk đứng ngồi không yên vì chờ đưa đoàn đến khách sạn. Tại khách sạn có anh chàng phụ trách một gian hàng. Anh ta mời đoàn nếm thử hương vị cà phê, đặc biệt rượu Ama Kông. Thậm chí còn chỉ dẫn cách ngâm thuốc với 20 lít rượu, ngâm thêm 200 gam chuối hột khô để có mùi đặc trưng của nó. Nhật Hồng trổ tài sao đó mà khi lên xe ra tiệm ăn, mặt mày hớn hở với chai rượu Ama Kông vừa mới được anh ta tặng để tiếp thị “trực quan” với đoàn mà người đầu tiên sẽ mua là Nhật Hồng.

Sáng hôm sau, Lê Khôi Nguyên, Phó chủ tịch Hội, Tổng biên tập Tạp chí Chư Yang Sin, đưa đoàn đi tham quan mộ vua voi Khun Yu Nốb và Buôn Đôn. Anh chị hào hứng đi cầu treo, còn cưỡi voi thì chẳng thấy ai leo lên lưng con vật khổng lồ này dù trước đó có nhiều vị nôn nao ao ước. Giá cưỡi voi tới 80.000 đồng/3 người/chuyến 15’. Ngay cả cơm lam đặc sản nơi đây cũng chẳng mấy ai “rớ” dù rất muốn thưởng thức! Có lẽ vì ăn sáng và mua vé tham quan tự túc nên ai cũng “thủ” túi tiền. Bù lại, anh chị được anh Khôi Nguyên “đãi” “đại tiệc” kiến thức về tên núi, tên sông, cùng nhiều chuyện về cái buôn “khổng lồ” này. Trên đường đi, nghe Khôi Nguyên kể sự tích “ly kỳ” của Ama Kông, nhất là “dược diệu” nổi danh của ông chỉ là rễ và lá cây bậy bạ cùng một số dâm dương hoắc Nhật Hồng tá hỏa tam tinh, mừng húm vì không phải mất 70.000 đồng mua 1 thang về ngâm rượu uống cho bà xã khen. Từ đó, anh có biệt danh “điếm vườn” vì lừa được “điếm núi” là anh chàng phụ trách gian hàng của khách sạn hết sức tía la mồm miệng kia.
Khi tham quan Nhà Bảo tàng dân tộc tỉnh Đăk Lăk, anh chị ai cũng “bần thần” trước 2 cây long não khổng lồ trong sân rộng bao la, có lẽ nó có mặt tại đây từ khi Bảo Đại chưa xây dựng biệt điện để nghỉ dưỡng nơi vùng đất Tây Nguyên này.

Buổi trưa, Khôi Nguyên nhiệt tình đưa đoàn tham quan vài điểm nữa, nhưng may quá, mới 13 giờ, chưa ai đến làm việc. Đoàn “phấn khởi” lên đường đi Pleiku (Gia Lai), lẽ ra đi Kontum,. Lý do: trước đó, Lê Chí biết được kế hoạch này nên đề nghị ghé Pleiku hay hơn, nhất là tham quan Ialy. Xe bon bon tới “thủ phủ” của Hoàng Anh Gia Lai, được Hội Đăk Lăk gọi điện giới thiệu trước, nên cô nhân viên Hội Văn nghệ Gia Lai đón đưa đoàn đến nhà khách Thanh Niên. Sau bữa cơm thân mật, anh em được cô đưa đi uống cà phê “ngon nhứt Pleiku”. Ai cũng khen, nhưng đều than đi về xa quá. Sáng hôm sau mới biết mình đi lạc đường, vì từ quán cà phê về nhà khách chẳng bao lăm!

Ialy với hồ nước bao la, nhất là cầu đập tràn “vĩ đại”, hẻm núi sâu hun hút, dù mùa này nước rất cạn. Vào đường hầm (dài 500m, rộng 4m) tham quan tổ máy mới thấy sức lực con người quả là đáng nể. Và tiền của đổ vào đây cũng thuộc hạng “kinh hoàng”.

Đêm vui “quá ể”
Tới Kontum khi trời còn nắng nóng, anh chị tranh thủ… giặt đồ, sau khi ổn định nơi nghỉ. Hội Văn Nghệ Kontum cử người đưa đoàn tham quan ngục Kontum, nhà thờ gỗ, cầu treo Konklor, uống cà phê Eva. Buổi cơm chiều diễn ra trong không khí thân tình do Hội bạn đãi, với sự hiện diện của Chủ tịch Hội Hữu Kim, Tạ Văn Sĩ… Buổi tiệc cũng hoành tráng, đặc biệt rất giống 2 hội Đăk Lăk và Gia Lai là có món cơm ăn với canh cua cà pháo mắm tôm. Bia uống nhiều hứng khởi nhờ có hai nhà thơ nữ trẻ của địa phương là Hồng Thủy Tiên và Doãn Mãi. Bữa cơm tưởng vậy nhưng vẫn tiếp tục khi Hữu Kim, Tạ Văn Sĩ cùng Hồng Thủy Tiên kéo đến nhà nghỉ… nhậu tiếp. Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, Nguyễn Trung Nguyên và tôi đãi bạn rượu thuốc mang theo từ Cần Thơ với sầu riêng núi mua ở chợ Kontum, Hồng Thủy Tiên mút sầu riêng ngon ơi là ngon. Rượu vào… thơ ra, Tạ Văn Sĩ đọc thơ lia lịa. Chưa đã… ngứa, Hữu Kim mời tất cả đi ăn cháo gà… “giảm cải”. Lại nhậu tiếp mấy chai Vodka Hà Nội. Say túy lúy, về khách sạn mới có… 3 giờ khuya.

“Sự cố” sông Hương
Tới Huế qua con đường Trường Sơn hoành tráng với nhiều cung đường đẹp vô cùng vậy mà chẳng được dừng lại chụp tấm ảnh nào. Qua hầm Hải Vân, tới khách sạn, do Hội Văn Nghệ Thừa Thiên – Huế giới thiệu, lúc xế chiều. Xe vừa ngừng đã thấy Võ Quê, qua điện thoại với Nguyễn Ngọc Tuyết biết đoàn sắp đến, đứng chờ với 2 chai Coca Cola đầy rượu làng Chuồn đặc sản quê anh. Võ Quê báo sẽ chiêu đãi đoàn đặc sản văn hóa ca Huế trên sông Hương vào tối mai rồi từ giã ra về chăm sóc bà vợ đau nặng nhiều tháng qua. Tối đó anh chị túa đi xem một vài nơi như cầu Trường Tiền, chợ Đông Ba, cầu Gia Hội… Sáng hôm sau tham quan lăng Tự Đức, Khải Định, Đan viện Thiên An (nhà thờ Hầm), chiều thăm chùa Thiên Mụ và Đại Nội. Có lẽ sợ thăm Đại Nội mất nhiều thời gian nên, theo Nguyễn Ngọc Tuyết, phó đoàn bảo chị hồi chuyến ca Huế trên sông Hương với Võ Quê. Phó đoàn thì bảo mình mệt nên nhờ Nguyễn Ngọc Tuyết báo với Võ Quê anh vắng mặt (?). Còn Nguyễn Ngọc Tuyết thì bảo phó đoàn nói như vậy có Lâm Thị Thanh Hà, Trúc Linh Lan nghe. Còn phó đoàn thì bảo nhờ Nguyễn Ngọc Tuyết xin lỗi Võ Quê ông không đi được. Buồn cười là sau khi thăm Đại Nội về, xe vẫn cứ tới bến đò Lê Lợi để xuống thuyền nghe ca Huế. Trưởng đoàn cùng một số người đứng chờ “sái cổ”, cuối cùng mới biết chương trình bị “xù”, lủi thủi về khách sạn.

Cứ tưởng Võ Quê giận, nhưng không, khi anh chị thân thiết với nhà thơ cố đô này mời nhậu chia tay lúc 19 giờ, Võ Quê vẫn tới. Để bày tỏ tình thân, Nguyễn Ngọc Tuyết, vẫn sợ Võ Quê từ chối, phải nói rất khéo về số tiền anh chị trong đoàn góp gọi là giúp bà xã anh trị bệnh. “Tiệc” toàn món Huế: bánh nậm, bột lọc, bánh bèo, đặc biệt bánh khoái… ăn với rau tươi và trái vả, nhậu với bia Huda. (Nhắc Huda mới chợt nhớ ông trưởng đoàn chỉ tấm bảng quảng cáo hỏi tài xế Huda là gì!). Tình thân bè bạn giữa Võ Quê với Lê Chí, Nguyễn Ngọc Tuyết, Trúc Linh Lan và tôi vốn có từ lâu nên “sự cố” nhỏ nhoi ấy chẳng hề chi. Chung vui và chung tiền đãi Võ Quê còn có Lâm Thị Thanh Hà, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng và Nguyễn Trung Nguyên. Tiệc nhậu đã vui càng vui hơn khi Võ Quê đãi “đặc sản” là “ca Huế trong quán cóc” với “Tương Tư Khúc” do anh sáng tác, Chầu văn… Dù đã trộng tuổi nhưng giọng ca của anh vẫn cuốn hút bạn bè, nhất là bốn thành viên mới: Lâm Thị Thanh Hà, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng và Nguyễn Trung Nguyên…

Cô đơn… trên đỉnh Bạch Mã
Trên đường rời Huế, Võ Quê gọi điện bảo Hội Văn Nghệ Thừa Thiên – Huế cử người đón đoàn hôm qua, sao chẳng thấy. Theo một vài người thì trưởng đoàn nói tưởng Võ Quê là Chủ tịch Hội đến đón nên không liên lạc với Hội! Trên đường, trưởng đoàn thăm dò ai đi Bạch Mã thì giơ tay, rồi nói: “Chỉ có mình anh Lê Chí”, nên cuộc “du sơn” bị hủy. Lê Chí hậm hực: “Hồi tối nhiều người đồng ý đi Bạch Mã vậy mà khi biểu quyết chỉ có mình tui!”. Té ra, anh là “bạn” của Võ Quê. Vì, trước kia, Võ Quê cũng đã từng bị “cô đơn” trên đồi Vọng Cảnh như vậy. May là Lê Chí không bị cho “về hưu sớm” như Võ Quê! Chợt nhớ, trên đường từ Kontum đi Huế, Lê Chí đề nghị ghé thăm hoặc nghỉ đêm Măng Đen. Bị… tài xế từ chối vì đường xấu, xe lớn không vô được, dù Lê Chí đã hỏi kỹ Tạ Văn Sĩ và được Hồ Thanh Điền (An Giang) đã lâu cho biết đường rất dễ đi. Vậy là “thiên đường biến mất” ngay trước mắt.

Xe bon bon lướt qua phá Tam Giang nổi tiếng ngay sát bên đường, mà ghé “vũng” gần Lăng Cô “để anh chị chụp hình”, rồi lướt qua đèo Hải Vân không thèm biết bãi biển Lăng Cô tráng lệ nằm bên dưới kia. Nếu ai hỏi cố đô còn gì sẽ “nhờ” “Trung niên thi sĩ” Bùi Giáng “kính cẩn” trả lời: “Dạ thưa xứa Huế bây giờ/Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”!

Ghé đỉnh đèo Hải Vân. Anh chị háo hức chụp hình “Đệ nhất hùng quan”. Tới Đà Nẵng, lấy phòng. 12 giờ 30 phó đoàn kêu đi ăn, dù đã báo 13 giờ. Xuống xe, trưởng đoàn nghe nói ăn xong đi Hội An, bèn lật đật trở lên phòng lấy đồ! Thăm làng đá mỹ nghệ Non Nước, Hội An, trở về, tài xế ghé bãi Mỹ Khê để đoàn tắm biển. Nhưng chẳng ai tắm vì có ai biết để mang theo đồ tắm.

Buổi tối, Lê Chí hẹn gặp Thanh Quế. Lê Chí cùng Nguyễn Ngọc Tuyết, Trúc Linh Lan, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, Nguyễn Trung Nguyên và tôi ra quán bình dân nhậu bia với hải sản. Thanh Quế nói liên tục đủ mọi chuyện trên đời, vừa nói vừa lấy tay kéo sụp lưỡi trai chiếc nón vừa hất nó lên. Ông bảo Hội Nhà Văn nên mời người viết vào, không nên chọn lựa như lâu nay, ai sống được thì sống, còn không thì bị tiêu vong theo quy luật. Đặc biệt thú vị là ông không biết sử dụng máy vi tính, điện thoại chỉ nghe và gọi, ai nhắn tin cho ông là “ngu lắm”!

Sáng, tài xế đưa đoàn tới Hội An, chạy loanh quanh rồi hướng thẳng tới Vĩnh Điện… ăn sáng. Anh chị chê mì Quảng ở đây quá tệ. Sao không ăn mì Quảng hoặc cao lâu ở Hội An? Ghé Mỹ Sơn. Những đền tháp hoang tàn vẫn cho thấy nét tráng lệ xưa của nó. Đặc biệt sướng mắt sướng tai khi được thưởng ngoạn văn nghệ Chăm, nhất là màn múa Apsara hấp dẫn.

Tới Quy Nhơn, sáng thăm mộ Hàn Mặc Tử, trên đường tới Tuy Hòa (Phú Yên), ghé Gành Đá Dĩa. Đẹp hết hồn. Khi ăn trưa quán Thạch Sanh. Thấy viên đá trứng bự cỡ chiếc gối đặt trên chậu kiểng, Nhật Hồng “chíp” trong bụng. Ăn xong đến gặp chủ quán, tỉ tê “chiêu” “điếm vườn”: Nhà anh có nhiều kiểng đẹp quá, xứ tôi cũng có. Nhưng xứ anh đá nhiều còn xứ tôi không có. Anh có thể cho tôi xin viên đá kia làm kỷ niệm. Ông chủ quán hỏi ý cậu con trai. Anh ta ngần ngừ, ông thúc cho đi, mình ở đây dễ kiếm hơn ông anh miền Tây yêu đá xứ mình. Cậu con đồng ý, khiêng lên xe theo lệnh cha anh… Tối, Hội Văn Nghệ Phú Yêu đãi đoàn tại Trung tâm giải trí & sinh thái Thuận Thảo – một “đại gia” địa phương – với “kính thưa các loại bánh” cùng bia. Chủ tịch Hội Văn Nghệ Phú Yên Nguyễn Ngọc Quang cùng Phó chủ tịch Hội Huỳnh Thạch Thảo tiếp đoàn. Xôm tụ hơn là cô Diệu Trang và cô “Nhậm Doanh Doanh” văn phòng “tiếp bia”. Nhắc Trần Huyền Ân (Trần Sĩ Huệ) mới biết “Nhậm Doanh Doanh” là con ông.

“Sống sót trở về”
Sau khi thăm Tháp Nhạn, Nguyễn Trung Nguyên rủ Đặng Hoàng Thám, Nguyễn Hồng Chuyên, Thành Nam “tiếp rượu” trả lễ Huỳnh Thạch Thảo. Chưa “đã”, ba mạng này kéo nhau đi karaoke. 12 giờ khuya, Đặng Hoàng Thám “sống sót trở về” báo cáo: Karaoke 95.000 đồng/giờ, bia Sài Gòn 20.000 đồng/chai. Tiệm có 3 em miền Tây đẹp não nùng. Hát một hồi, Thám “lặn” xuống đất, bảo vệ hỏi đi đâu, bảo đi toillet, hỏi sao không đi trên đó, bảo tao muốn đi đâu thì đi. Thấy bảo vệ mặt mày bặm trợn với mấy con chó berger hì hợm, Thám hoảng hồn nói mai tao đi công chuyện sớm chớ không phải đi chơi, cho tao ra. Không hiểu sao Thám qua lọt dãy hàng rào cao 2-3m của tiệm karaoke về phòng. Mừng quýnh!

Chia tay Phan Thiết
Tới Phan Thiết (Bình Thuận) vào lúc hoàng hôn. Ghé Hội Văn Nghệ Bình Thuận, được hướng dẫn tới khách sạn rồi đưa đi ăn tại khách sạn nhà hàng Bình Minh ở Đồi Dương. Tại đây có mặt Chủ tịch Hội Đỗ Kim Ngư, 2 phó chủ tịch Hội, Lê Nguyên Ngữ cùng 2 cô văn phòng “bụng to”. Lại đặc sản biển với bia. Sau đó, tôi hẹn Hồ Việt Khuê đến chơi. Anh ta đãi tôi, Đặng Hoàng Thám cùng 2 anh bạn địa phương của Thám cùng Nhật Hồng chầu bia Budweiser (Mỹ, 20.000 đồng/chai) với cá bò chiên. Chưa chịu thôi, rủ đi massage “rũ bụi đường xa”.

Mọi bữa 7-8 giờ sáng mới lên đường, vậy mà bữa nay sáu giờ sáng rời khách sạn, chẳng tham quan nơi nào của Phan Thiết cả, vì anh chị mệt muốn về nhà sớm! Chính vì vậy mà tôi đành khất Hồ Việt Khuê đừng chở Nguyễn Bắc Sơn đến như đã hẹn. Tiếc quá, không có dịp trò chuyện với tác giả “Chiến Tranh Việt Nam & tôi”!

Tổng kết chuyến đi, có thể nói bị “nghẹn” khá nhiều. Lý do là vì có mặt Hoài Tường Phong - nhà thơ “Trăng nghẹn” trong chuyến đi này./.
-------------

“Nhậm Doanh Doanh” quá sức “sung”!


Huỳnh Thạch Thảo cụng ly với “Ông Trăng nghẹn” trước sự “chứng giám” của Nhật Hồng


Đặng Hoàng Thám “sướng hé” khi quàng tay qua vai Hồng Thủy Tiên.

Võ Quê ca Huế trong quán cóc.


Thanh Quế say sưa “tám”.

Doãn Mãi “tiếp cận” Lê Chí.



Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Đi Đồng Tháp mùa nước nổi


Theo câu hát “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”; mùa nước nổi, cuối tháng 9, chúng tôi háo hức lên đường. Dài theo con đường nhựa từ thị trấn Thanh Bình (huyện Thanh Bình) tới thị trấn Tràm Chim (huyện Tam Nông), dưới nền đường cao vút, nước ngập lé đé những ruộng mạ xanh dờn. Hỏi bà chủ quán bên đường đọc báo, nghe đài loan tin lũ vượt ngưỡng báo động ba sao kỳ vậy. Mấy anh chàng chăn vịt chạy đồng ngồi uống cà phê trưa cười ha hả: “Còn cả tháng nữa mới tới đỉnh”. Vì vậy cánh đồng hai bên đường tuy trắng xóa một màu nước, nhưng không “đã con mắt” bằng khi nước nổi lên đến đỉnh điểm. Lúc đó nước là nước dập dềnh sóng, ngập tràn mọi thứ nơi nó đi qua.


Sen mọc tràn mặt kinh VQG Tràm Chim.

Vườn Quốc gia Tràm Chim thuộc huyện Tam Nông (Đồng Tháp) là điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn của đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Được xếp trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, trở thành Vườn Quốc gia Tràm Chim từ năm 1998 nhằm bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước của vùng Đồng Tháp Mười, bảo vệ khu vực di trú cho các loài chim di cư, đặc biệt là sếu đầu đỏ, song song với việc bảo tồn các loài động - thực vật, các nguồn gen quý hiếm, và duy trì những điều kiện thích hợp cho việc nghiên cứu môi trường tự nhiên và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Vườn Quốc gia Tràm Chim có 7 phòng lạnh, mỗi phòng 3 giường giá 150.000 đồng; cùng một phòng quạt bốn giường giá 100.000 đồng. Giường sắt trải nệm mỏng mềm nhũn có chiếc giường kêu ọp ẹp khi ngồi lên hoặc trở mình! Ngủ một đêm tới sáng, chúng tôi thuê 1 trong mấy chiếc vỏ lãi composite tham quan Vườn. Một chiếc, 600.000 đồng, chở 17 người. Máy nổ bành bạch, vỏ xé nước lao trên dòng kinh đỏ màu tràm, bông súng ma nở bông (cánh trắng tinh, cánh tim tím, cánh phớt hồng…). Thích thú khi bắt gặp một ghe chờ đầy những đóa bông súng vừia hái. Vỏ lướt qua vạt rau tràng nở bông trăng trắng; đặc biệt là một vùng tràn ngập cả khúc kênh, cả bề ngang mặt nước, hàng hà sa số những chiếc lá sen xanh, lấm tấm điểm những búp sen hồng hoặc những cánh sen mãn khai. Vun vút lướt qua mắt là vạt rừng tràm mỏng rồi cánh đồng lúa ma xanh dờn tới chân rừng tràm, chiếm diện tích khoảng 10ha. Người địa phương gọi đây là lúa trời, Trịnh Hoài Đức viết trong “Gia Định thành thông chí” là “quỷ cốc”. Hằng năm, vào khoảng tháng tư âm lịch, trời bắt đầu mưa, lúa bắt đầu mọc. Tháng 4 dương lịch, lúa nhú cao chừng năm tấc, thân cứng, lá to bản. Mùa nước nổi (tháng 8 – 12 dương lịch) lúa trỗ đòng. Nước dâng tới đâu, ngọn và hột lúa vươn cao lên khỏi nước tới đó. Một tháng sau lúa chín, vào ban đêm. Nắng lên lúa rụng, tiếp tục nẩy mầm... Lúa trời là đặc sản của thiên nhiên, người xưa thu hoạch bằng cách bơi xuồng con, chính giữa căng bức màn. Xuồng lướt qua ruộng lúa, người ta dùng sào đập cho lúa chạm bức màn rơi xuống khoang. Lúa thu hoạch về ngâm nước khoảng ba ngày rồi đem phơi cho rụng đuôi trước khi xay, giã thành gạo nấu ăn. Gạo lúa ma rất ngon cơm nhờ dẻo và thơm. Ngày nay, lúa ma được Vườn bảo tồn như sản phẩm độc đáo của đất trời, đồng thời làm nguồn thực phẩm cho chim chóc, không kinh doanh. Thời điểm này lúa chưa trỗ đòng.

Chèo xuồng tham quan rừng tràm Gáo Giồng.


Vỏ chạy nhanh chỉ có thể quay phim còn chụp hình khó có ảnh đẹp. Tới ruột rừng, nơi có căn nhà sàn nhân viên giữ rừng ở và căn nhà sàn dài làm nơi ăn uống. Có một đài cao, leo lên đó quan sát cảnh hồng hoang của Vườn. Rừng tràm chiếm 1.800ha diện tích với 100 loài động vật có xương sống, 40 loài cá và 147 loài chim nước. Các loài chim thường gặp gồm: cò trắng, cò bợ, cò lửa, cò lép, vạc, diệc lửa, diệc xám, điên điển, cồng cộc, tu hú, cu ngói, cu cườm, cu,... Trong đó có 13 loài chim quý hiếm thế giới, đặc biệt là hạc, thường gọi sếu đầu đỏ hoặc sếu cổ trụi. Đầu hạc màu đỏ mỏ dài, chân và cổ cao trụi, mình có bộ lông xám tro. Mỗi con hạc nặng tối đa 10kg. Hạc về Tràm Chim vào tháng giêng, tìm bạn tình vào tháng năm (trước mùa mưa), sau đó di chuyển tìm nơi đẻ trứng, nuôi con. Thực phẩm khoái khẩu nhất của hạc là củ năn - nhỏ như hột bắp, giống củ cỏ cú. Đi lúc này nên chúng tôi chẳng thấy hạc. Nhưng khi vào mùa cũng khó nhìn cảnh tượng hạc ăn củ năn no nê rồi nhảy múa. Muốn nhìn tận mắt cảnh tượng thần tiên này phải chịu khó “phục” cả buổi trời, lại phải nằm dưới gió. Nằm trên gió, hạc đánh hơi người bay đi hết.

Bến xuồng chèo Gáo Giồng với những chiếc áo phao buộc sau lái.

Tại “ruột rừng”, trên nhà thủy tạ xây gạch vững chãi, rộng rãi, chúng tôi thoải mái bày “mâm” nhậu. Thực phẩm mua ngoài chợ Tràm Chim đem theo với bếp, than, củi nhúm, vài lít rượu và thùng đá trà chữa lửa. “Mâm” nhậu là những tờ báo trải trên nền gạch bông, toàn các món nướng cho gọn. Những con rắn bông súng nhỏ cỡ ngón tay cái cuốn tròn như chiếc rế nồi đặt trong vỉ cháy nám đen. Loại này dùng tay bẻ từng khúc ngắn chấm nước mắm me ăn vừa giòn da vừa ngon ngọt thịt còn “ứa” những giọt máu hồng. Nhưng ngon “ác liệt” là nhai luôn xương. Cá lóc nướng trui quá “phổ thông”, cá lóc nướng trui Đồng Tháp “cao cấp” hơn. Ở đây người ta không gói cá lóc, rau rác bằng bánh tráng mà bằng bẹn sen. Bẹn sen là những chiếc lá sen non vành lá cuốn quấn vào trong, nhìn “sướng” mắt. Những chiếc bẹn sen mọc nhiều theo dòng kinh, phải nhanh tay hái khi vỏ lướt qua. Cầm bẹn sen “banh” ra, “nhét” thịt cá lóc nướng trui cùng bún và rau rác, chấm nước mắm me, ăn nghe chát chát mùi hoang dã, sướng cái thần hồn.

Tham quan cánh đồng lúa ma VQG Tràm Chim.


Chỉ hai món đậm chất khẩn hoang này cũng đủ khiến chúng tôi lúy túy say. Vỏ lãi đưa chúng tôi về nơi xuất phát. Hai cô hướng dẫn viên du lịch đi theo ngồi mũi vỏ trong hai chuyến vỏ chẳng nói tiếng nào, về tới bến mới chỉ cây gáo đang nở bông hỏi một người trong đoàn là cây gì! Những thông tin về Vườn chúng tôi biết được qua tìm hiểu.
Rời Vườn quốc gia Tràm Chim, theo anh bạn địa phương, chúng tôi đi trên con đường tắt xuyên ruột tỉnh Đồng Tháp đến Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng (thành phố Cao Lãnh), là một trong vài “lõm” hoang sơ của Đồng Tháp Mười xưa. Con đường đan xuyên qua những xóm làng trù mật, khoái nhất là đoạn đường đất lầy lội dành riêng cho nhân viên bảo vệ rừng tràm Gáo Giồng đi lại. Con đường được hai hàng tràm xanh mướt phủ bóng mát rượi. Vào cửa Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 10.000 đồng/người. Uống trà, ăn hột sen rang, xem phim giới thiệu khu du lịch, nằm võng, câu được cá nhờ nhà bếp nấu nướng, tất cả đều miễn phí.


Rạo rực mua vé đi xuồng chèo tham quan rừng tràm, 8.000đồng/ người. Bao nguyên chiếc 30.000 đồng/chuyến. Một chiếc chở tối đa 4 người. Có khoảng 10 chiếc xuồng ba lá với những tay chèo là thiếu nữ bận bà ba màu thiên thanh, xinh xắn với chiếc khăn rằn quấn cổ và chiếc nón lá duyên dáng choàng ôm mái tóc đen mượt. Xuồng nào cũng có áo phao nhưng chỉ chất đống và cột chặt nơi lái. Mái chèo khua nước, xuồng lướt êm trên con kinh rập rờn bèo cám. Càng đi sâu, càng thấy bèo cám xanh mượt như tấm thảm phủ kín hàng vạn gốc tràm già chôn chân trong nước trong diện tích hơn 1.600ha. Sân chim rộng khoảng 35ha với hơn 15 loài lông vũ sinh sống, đặc biệt có diệc lửa và nhan điển - hai loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Xuồng ghé rìa sân chim. Nhìn lên các tán tràm, hàng bao nhiêu cánh chim chao lượn như thuở hồng hoang. Gáo Giồng còn là nơi trên chim dưới cá. Thủy sản ở đây phong phú với nhiều loài như cá lóc, cá bông, cá sặc, cá chốt, cá lăng, cá bống, cá nhái… Mùa nước nổi từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, nước từ sông Mékong tràn về phủ ngập đồng, Gáo Giồng thật sự là một ốc đảo giữa trời mênh mông và nước cũng mênh mông. Mùa này, cá linh từ Biển Hồ (Campuchia) theo con nước trôi về từng đàn. Đó cũng là lúc điên điển trổ bông vàng. Cá linh và bông điên điển trở thành bản hòa thanh ẩm thực độc đáo khi cá linh non nấu me non chấm bông điên điển, là món ăn đặc trưng mang đậm sắc thái của người dân Nam bộ. Nhưng “ngon nhứt xứ” là mắm kho bằng mắm cá linh xay và cá linh tươi chấm bông điên điển, bông súng, rau dừa... Càng ăn càng “thấm thía” câu ca dao: “Muốn ăn bông súng mắm kho/Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm”. “Đã” nhất khi biết giá cá linh bán sĩ từ ghe tại chợ Tràm Chim: 2.500đồng/kg (trong khi đó tại chợ Cần Thơ tới 40.000đ/kg cá linh).

Thiên nhiên hoang dã Vườn Quốc gia Tràm Chim

Ngắm cảnh hoang sơ đã đời, thiếu nữ bơi xuồng chòng chành đưa chúng tôi về bến. Hành trình dài 2,5km mất 45 phút đi về. Thích thì có thích nhưng quá đỗi lo âu. Dân thành thị mấy ai biết đi xuồng, nên khi đặt chân lên tấm ván mũi xuồng, xuồng lắc lư, sợ. Sợ nhất là khi xuồng đang bơi. Vì là loại xuồng nhỏ, ngắn đòn, mỏng mảnh nên khi có ai đó nghiêng mình quan sát cảnh vật, xuồng nghiêng, nước mấp mé nhanh chóng tràn vào be. Xuồng chìm không mấy sợ, vì nước kinh cạn, chỉ sợ máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại di động mang theo – những tài sản xem như đắt tiền – sẽ là thứ bỏ đi! Chợt nhớ chiếc vỏ lãi ở Vườn Quốc gia Tràm Chim tuy an toàn nhưng không có phao cứu sinh.
Thất vọng cuối cùng: Con đường xi măng cốt thép từ Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng ra Quốc lộ 30 dài khoảng 20km, xe 12 chỗ lưu thông khá bất tiện, nhất là khi có chiếc ngược chiều, lại phải mua vé qua 2 chiếc cầu, dù mỗi chiếc xe gắn máy chỉ có 2.000 đồng.

Bản sắc ngữ âm vùng miền


“Tôi là dân Huế, lần đầu tiên vào Sài Gòn học lúc người Bắc di cư vào miền Nam sau hiệp định Geneve. Chân ướt chân ráo, mua trái cây, gặp cô hàng ngước mắt hỏi: “Anh Hai ở ngoài Bắc có sầu riêng không?”. Với người Nam lúc đó, ai không phải là người Nam thì đều là dân Bắc cả. Tôi mê hai tiếng “anh hai” quá trời, vì cái giọng miền Nam ngọt ngào, chân thật như người miền Nam mà tôi… cũng mê (…) … làm sao tất cả những “người Bắc” – nghĩa là có tôi – cất giữ, trân quý cái chất ngọt ngào, chân thật đó của người Sài Gòn”.
(GS Cao Huy Thuần)

Anh bạn tôi định cư tại nước ngoài, lại ở một địa phương có rất ít người Việt nên rất cô đơn vì thiếu vắng tiếng nói của đồng bào. Cho nên nhân dịp về Việt Nam, nghe tiếng Việt là hạnh phúc khôn nguôi trong đời, anh còn tự hào khi gặp gỡ bè bạn hầu như của một số vùng miền trên đất nước. Là dân Nam bộ nên anh tâm sự rất sướng khi nghe mấy anh chàng nói rặt giọng miền Nam, ngọt ngào như nước sông Nhà Bè, Đồng Nai, Cửu Long cuồn cuộn chảy. Sao không sướng thích khi nghe họ nói: “hông”,” hổng”, “nhứt”, “bịnh”, “kinh”, “héng”, “hả”… thay vì dùng: “không”, “nhất”, “bệnh”, “kênh”, “nhé”, “nhỉ”… và chẳng thấy ai nói “về” bằng cách phát âm của người Bắc…

Phát âm khẩu ngữ Nam bộ hình như bây giờ chỉ còn một số người “hoài cổ”, bởi có khá nhiều người sử dụng ngôn ngữ và phát âm Bắc bộ. Cứ tới chỗ có chữ “v” họ mím môi, gặp chữ “gi” “siết răng”, chữ “h” cố tròn miệng, còn “d” thì phát âm theo kiểu có chữ “z” đằng sau chữ “d”. Đáng ngại là khi đang phát âm theo kiểu Bắc ngon lành, đột nhiên họ quên nói “về” mà làm một lèo theo cách cha mẹ và cả cộng đồng dân “ăn giá sống” đều phát âm. Cũng không thể không ái ngại khi nghe họ không thể phát âm chuẩn xác những từ có dấu hỏi, dấu ngã; có t có c hoặc có g hay không g ở cuối từ. Muốn phát âm chuẩn Bắc bộ, cần phải có ngữ âm ngoài ấy, đồng bộ, nghe mới thuận tai, anh thổ lộ.

Dù dân Nam phát âm “lai” Bắc cỡ nào đi nữa cũng không bị một người dân nào ngoài ấy phàn nàn, anh nhận xét. Cũng giống như vậy, có những người Bắc lại khoái thích nói giọng Nam bộ. Họ phát âm “về” thành “dề”, “dìa” cùng ngữ âm nhẹ hơn thổ ngữ của họ nghe ngồ ngộ. Đáng khâm phục là các nghệ sĩ cải lương Bắc đã ra sức phát âm, nhất là ca từ, càng có ngữ âm miền Nam chừng nào càng tốt chừng nấy. Thích và muốn trở thành người nói “tiếng” Nam là điều tốt, nhưng đừng vì vậy mà làm sử dụng phương ngữ vùng đất này một cách… trật lất, như: “Tui và cô ấy đi mình ên xuống đây”. “Mình ên” của dân Nam bộ, đặc biệt dân Sóc Trăng, có nghĩa “đi một mình”. Đằng này đi với cô gái mà nói đi “mình ên” nghe “chỏi lỗ tai”. Có lẽ khi nghe ca sĩ hát một bài dân ca Nam bộ hay những bài bản cải lương mà trong đó các tiếng “về”, “giữ gìn”, “dấu yêu”, “chặt chẽ” phát âm theo Bắc chắc bài hát ấy sẽ lạc điệu. Cũng vô duyên, không thể chấp nhận, khi gọi các địa danh: An Nhơn là An Nhân, Qui Nhơn thành Qui Nhân, Nhơn Nghĩa thành Nhân Nghĩa hoặc Chơn Thành là Chân Thành. Người ta nói phát âm Nam bộ trật chính tả, đồng ý, nhưng nghe và nhất là viết đúng chính tả mới tài, anh “khen”.

Người Nam, người Bắc dẫu có cố tình hòa hợp với phương ngữ của nhau vẫn không ai nói gì. Nhưng nếu là dân Nam mà bày đặt Trung hóa sẽ mích lòng.

Người Trung phát âm “v”, “gi”, “d”… gần giống người Bắc, nghe tự nhiên. Và tự nhiên nhất là họ phải giữ gìn và phát huy phương ngữ của mình. Nếu người đất thần kinh không nói mô, tê, răng, rứa, không còn xưng hô mi, tau… thì còn chi là Huế tui! Chính vì đặc trưng ấy mà khi nghe họ nói chuyện ta có thể biết người đó là dân vùng miền nào, như: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa hay Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Nha Trang…

Bây giờ thế hệ trẻ đang nói và phát âm hầu như gần theo kiểu Bắc, anh góp ý. Chẳng đứa trẻ nào nói “về” bình thường với hơi gió xưa nay của ông bà… Phát âm Nam bộ chỉ còn thấy ở số ít một bộ phận người có tuổi. Họ “vô tình” giữ gìn bản sắc. Như mọi thứ trên đời, bản sắc không phải bất biến. Bản sắc người Việt hôm nay chẳng thể giống hoàn toàn với người Việt của trăm năm trước. Đó là văn hóa. Mà văn hóa thì phải theo quy luật tự nhiên. Do vậy, đã là dân Nam bộ thì phải là dân… Nam bộ một cách hoàn toàn tự nhiên với ngữ âm mềm mại và ngọt ngào sông nước Cửu Long. Và, đã là dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình - Trị - Thiên, Quảng Ngãi, Quảng Nam… thì phải giữ ngữ âm của mình. Chính họ mới là những “vị” rất đáng trân trọng vì đã làm đa dạng và phong phú ngữ âm vùng miền nước Việt.



Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

“Cỡi ngựa…” Nha Trang

Đi Nha Trang (Khánh Hòa) chẳng có mấy ngày, lại gặp ngay cơn bão số 11 (Mirinae)!

Thác YangBay


1-11-2009:
Từ Nha Trang vượt qua cảnh quan ngoạn mục của đèo dốc núi rừng cùng những ngôi nhà nhỏ bé ẩn trong những khu vườn cây ăn trái của đồng bào Răglay là đến Công viên du lịch Yang Bay (Khánh Phú, Khánh Vĩnh). Yang Bay tọa lạc trên diện tích 570ha xung quanh là rừng nguyên sinh chập chùng theo triền dốc núi cao. Vào cổng: người lớn 30.000đ/vé, trẻ em 30.000đ/2 vé. Nếu cần hướng dẫn viên thì thuê: tiếng Anh 100.000đ/giờ, tiếng Việt 50.000đ/giờ. Đi xe điện vào thác 10.000đ/vé/khứ hồi. Du ngoạn bằng xe ngựa toàn tuyến 200.000đ/45’. Dạo chơi bằng xe đạp đơn 10.000đ/giờ, xe đạp đôi 30.000đ/giờ. Đáng chú ý, ngay cổng vào có bảng cảnh báo: Mang đồ ăn thức uống vào phạt 50.000đ/bịch. Tuy nhiên khách vẫn thoải mái mang mọi thứ vào. Bảng là… bảng.

Thư giãn bên thác.


Thác Yang Bay 1 cao 80m, dài 200m với nhiều hồ lớn và nhỏ. Hồ lớn có tên Voi Đầm, sâu 16m, là nơi nước chảy cuồn cuộn, không được tắm. Đi dọc bờ hồ, trên con đường dốc đá vài nơi nước rịn chảy từ sườn núi, bờ có tay vịn nhưng bảo vệ vẫn đi theo đề phòng bất trắc. Ngang hồ nhỏ (sâu khoảng 3m) là đập tràn dài 30m được xây dựng bằng xi măng và đá tảng, hài hòa, nước chảy qua lạnh cóng. Qua đập là thác Yang Khang, nhỏ hơn và “hiền” hơn. Tắm thác với áo phao 5.000đ, quần tắm nam 60.000đ, đồ tắm nữ 70.000đ. Tắm xong nằm võng, 10.000đ/chiếc. Sau đó thưởng thức “sơn hào hải vị” do Nhà hàng Yang Khang phục vụ, đáng chú ý: Từ cá sấu có chiên nấm, nướng sả ớt, nướng ớt xanh: 90.000đ/dĩa. Heo rừng có: nướng muối ớt, xào: 90.000đ/dĩa. Nai nướng hoặc xào sả ớt: 90.000đ/dĩa. Các món đà điểu gồm: xào lúc lắc, chiên giòn, nướng ngũ vị, bao tử hấp gừng, bao tử nướng sả ớt, gân xào măng rừng, gân nướng sả: 80.000đ/dĩa. Còn có món xúc xích đà điểu: 30.000đ/cây, ngon, nhưng ăn khá phản cảm vì nó giống như…! Bàn ăn dài theo bờ thác trong bóng mát cổ thụ, khá “quái” là ghế xích đu dùng để ngồi ăn. Ghi giá mỗi chiếc 10.000đ to tướng ngay trên mặt bàn. Vì vậy phần lớn người ta bày thức ăn trên những tảng đá tương đối bằng phẳng cùng nhau vui thú với đồ ăn thức uống đem theo. Nhà vệ sinh sạch đẹp bố trí nhiều nơi.

Trở ra, tại ngã ba Vườn đào – một khu vườn mai anh đào xanh tươi lá, có lẽ khi nở hoa rất đẹp. Đối diện là nhà hàng Yang Bay. Rẽ phải vài trăm thước đến vườn lan. Kỹ sư Huỳnh Thị Kim Loan, 27 tuổi, cho biết nơi đây trồng nhiều loại lan cấy mô, bán giá từ 10.000đ-250.000đ/giò. Cô hưởng lương 1,7 triệu đồng/tháng, đủ sống nhờ rau cải rẻ. Cùng với cô, chăm sóc vườn lan còn có 2 công nhân cấy mô và 2 lao công. (Cả Yang Bay có 150 công nhân). Qua hồ câu cá thư giãn không còn hoạt động, nước xanh ô nhiễm, là khu nuôi gấu, rộng 4.500m2. Đập vào mắt là bức tường thành cao hình vòng cung cao như ngọn đồi, có bậc cấp để lên xem gấu. Bên trong cây cỏ um tùm, chẳng thấy gấu đâu. Trở xuống, đi một quãng, nhiều chuồng gấu nhỏ hẹp xây trong vòng thành. Những chú gấu “ngọ nguậy” rất tội nghiệp trong đó. Nhân viên cho biết có 20 con đang nuôi. Thêm đoạn nữa tới thác Ho Cho. Công nhân đang trồng hoa, tạo cảnh trên sườn núi, khá đẹp. Đang giữa mùa mưa mà thác Ho Cho như con suối nhỏ, chẳng hấp dẫn gì dù được “quảng cáo” là nơi tắm nước khoáng có hai luồng nóng lạnh tự nhiên!

Trở ra cổng có quầy lưu niệm với khá nhiều mặt hàng. Cô Bạch Thị Kim Ngân phụ trách luôn giới thiệu khách mua da voi: dây nịt 110.000đ/chiếc, bóp 120.000đ/chiếc, da voi 100.000đ/miếng. Cô cho biết, da voi là thuốc trị mồ hôi trộm trẻ con (?). Hỏi giết voi lấy da thuộc, cô cười bảo voi chết tự nhiên (?).

Trở ra, ngồi trên xe, một người trong nhóm buột miệng: “Tốn 40.000 đồng khá lãng, thác gì như cái ao nếu so với thác bên Lào, lại nữa đường từ Thành cổ Diên Khánh vào đây có bao nhiêu ngã ba ngã tư mà chỉ có duy nhất một bảng chỉ đường!”.

2-11-2009:
Đêm qua, anh Trương Cao Duy, người địa phương, vấn kế sáng nay không nên đi vùng biển vì sắp có bão, chỉ nên đi núi. Anh đề cử Khánh Sơn, nơi có hang núi người xưa chế tác đàn đá. Hỏi có gì nữa không?, anh cười: “Có mấy em Răglay hát karaoké”. Lắc đầu. Anh chỉ Ba Hồ.

Cảnh quan dưới chân Ba Hồ.

Sáng sớm, anh Duy đến đưa đi Ba Hồ (Vạn Thuận, Ninh Ích, Ninh Hòa), cách Nha Trang khoảng 30km. Con đường từ quốc lộ 1 vào đây hẹp, càng vào sâu càng xấu, khó lái xe. Dọc đường là những ngôi nhà nhỏ bé, bề ngang lớn hơn bề sâu, thấp lè tè, cái xây gạch không tô tường, cái vách đất. Khi xe dừng tránh đường xe ngược chiều, trẻ con từ trong nhà chạy ra xòe tay xin tiền!

Trên đỉnh núi Hòn Sơn, cao 600m, có dòng suối chảy tạo thành ba cái hồ nên đặt tên Ba Hồ. Con đường từ chân núi lên tới đỉnh dài 10km xuyên qua cánh rừng nguyên sinh chằng chịt cổ thụ. “Suối Ba Hồ có độ cao – rộng khác nhau, sinh động và hấp dẫn được nhân dân nơi đây gọi là danh thắng Suối Ba Hồ”, tấm bảng xi măng giả cẩm thạch đen ghi như vậy. Nhưng muốn đọc được phải vẹt miệng những bao cát chồng đống. Ngồi trong quầy giải khát của khu du lịch, nơi bán một số thức uống thông dụng nhưng chẳng thấy có ai bán, mái lá nhiều nơi mục nát nhểu từng giọt nước của cơn mưa lất phất phủ trùm cả không gian. Một nhân viên phụ trách cảnh báo không thể lên xem hồ vì nguy hiểm. Buồn buồn ngắm nhìn dòng suối trước mặt khá nhiều nước chảy qua những tảng đá to, hạ lưu là bãi cát dài xuyên rừng cây xanh rũ lá. Mưa càng lúc càng dầy, đành ra về vì chẳng thể “du ngoạn rừng nhiệt đới, tắm suối và thác nước hùng vĩ, câu cá, bơi thuyền, cắm trại” như tấm bảng treo trước văn phòng khu du lịch. Bảng còn quảng cáo khu nhà nghỉ và quầy lưu niệm nhưng chẳng thấy đâu!

Trở ra, gần đến quốc lộ 1, thấy tấm bảng báo có đường xe lửa băng ngang. Thấy bảng đã “đụng” đường xe lửa rồi, sao đề phòng kịp! Giã từ “con đường đau khổ” của Làng văn hóa (?) Vạn Thuận về Nha Trang, con đường dài theo cảng Lương Sơn, khá nhiều người đứng nhìn sóng biển cao ngất bỏ vòi trắng xóa.

Hai giờ chiều, hẹn anh bạn địa phương Huỳnh Ngọc Minh chở xe gắn máy đi làng mắm. Mưa, không đi được, đành ra quán cà phê. Chia tay anh Minh, lái xe đưa thăm Hội quán Vịnh Nha Trang. Đây là ngôi nhà rường Huế, gồm ba căn. Căn giữa triển lãm ảnh; căn bên phải giới thiệu tranh cát và trầm hương; căn bên trái trưng bày và bán tranh đá quý và sản phẩm làm từ vỏ ốc. Tại căn bên trái, ta như lạc vào thế giới không thể tin được. Đá nhiều hình thù, kích cỡ được đánh bóng đẹp như ngọc. Nhiều bức tranh cẩn đá. Nhiều vỏ sò vỏ ốc chế tác tinh xảo. Món rẻ nhất 70.000đ và đắt nhất 60 triệu đồng. Đặc biệt, nơi đây có trưng bày 2 cây trầm hương (dó bầu, tên khoa học Aquilaria Crassna), mỗi cây cao khoảng 2m, tìm thấy tại Khánh Hòa. Phía sau Hội quán là Hòn Chồng nổi tiếng. Bên phải, phía sau Hội quán là khu bán hàng lưu niệm với nhiều mặt hàng làm từ vỏ ốc vỏ sò. Độc đáo là vỏ sò có tên “Kim khôi nữ hoàng”, giá “hét” 400.000đ/cái (trong khi ở Cầu Đá chỉ rao 250.000đ/cái). Vào cửa tham quan 6.000đ/vé.

Trở về khách sạn, dài theo con đường bờ biển, người dân che dù đứng nhìn sóng biển cao có vòi trắng xòa từng đợt, từng đợt đánh vào bờ. Bão Mirinae đang gần tới. Anh bạn Phan Đình Du, dân Bắc di cư sống gần trọn đời ở Nha Trang đang sống ở Sài Gòn, điện cho biết dân ngoài này khoái đi “đón bão”. Họ thích thú đứng trên bờ biển, trên cầu Trần Phú (song song cầu Xóm Bóng) xem sóng tràn vào bờ chừng 2-3m. Nằm phòng buồn, anh bạn đi cùng rủ đón xe buýt đi Cầu Đá mua cá biển. 3.000đ/chuyến. Chỉ có hàng lưu niệm. Trong gian nhà không tường nhiều người đứng nhìn hòn đảo Vinpearl chìm trong mưa. Nhân viên phụ trách cáp treo cho biết ra Vinpearl bằng cáp treo 300.000đ/người/khứ hồi, đi horsboard khứ hồi 400.000đ/người. Tất cả đều được tham dự các trò chơi miễn phí ngoài ấy. Mưa bão nên chính quyền cấm đi biển.


“Tháp Trầm Hương” tai tiếng.

Đón taxi trở về, đoạn đuờng dài khoảng 9km, 110.000đ. Đường Trần Phú ven biển đẹp với “rừng” dừa, “rừng” dương, đáng tiếc là vài nơi bị nhà hàng, resort che chắn kín mít. Mưa triền miên. Suốt đêm. Có lúc gió rít rợn người. Cứ sợ bão theo cảnh báo của báo, đài. Nhưng anh Minh cười tỉnh queo: “Nha Trang chẳng bao giờ có bão (một số nơi của Khánh Hòa mới có bão) nên người dân háo hức “đón”. Xưa kia người ta tin bão không vào Nha Trang nhờ có Bà (Thiên Y A Na) độ. Còn bây giờ người ta nói bão vào đây gặp “Tháp Trầm Hương” xấu quá vội trở ra”.


3-11-2009:

Người dân đội mưa “đón” bão, xa phía tay phải là Hòn Chồng.

Sáng thức dậy, vẫn còn mưa. Con đường Phạm Văn Đồng, Trần Phú sát bãi biển, nhiều nơi nước ngập nửa thân xe. Chỉ mưa thôi. Mưa tầm tã. Đành lên xe đi Phan Rang (Ninh Thuận) qua con đường vịnh Cam Ranh uốn lượn theo một bên là biển bên kia là núi, đẹp. Người ta nói Nha Trang đẹp ở một nửa kia trên biển, nhưng “đất liền” cũng lắm điều “thú vị” như có người nói: “Đi chơi cho biết Nha Trang. Đi rồi mới biết nó sang hơn mình. Có tắm biển có tắm sình. Có hồ nho nhỏ cho mình tắm chim”. Chắc là vậy, vì chúng tôi mới “cỡi ngựa xem…” Nha Trang lại “đụng” bão Mirinae.


Ăn gì cũng sợ


Hồi nhỏ tôi thường nghe người lớn ta thán: “Khuất mày khuất mặt ăn đại” để chỉ cảnh “cơm hàng cháo chợ”. Hơn nửa thế kỷ sau, việc vệ sinh an toàn thực phẩm chẳng những không bị ngăn chặn, trái lại ngày càng phát triển thêm hơn đến nỗi “ăn gì cũng sợ!”.



Buổi sáng, ra hàng quán ngồi với tô bún riêu, tô hủ tiếu, tô phở hoặc dĩa cơm tấm nóng hổi với những lát thịt bày biện ngon mắt. Những lát thịt tươi rói cùng những sợi bún, sợi hủ tiếu, sợi phở trắng ngần, óng ả nhưng ai biết chúng được làm đẹp và giữ lâu ngày nhờ ướp formol! Ăn xong, nhâm nhi ly cà phê đen. Vẫn là vị cà phê đắng ngọt nhưng sao biết được đó chỉ là “tinh” chứ không phải cà phê nguyên chất.

Buổi trưa không về nhà ghé quán cóc ăn bậy dĩa cơm. Quán khang trang lịch sự hay xập xệ cũng đều là những nơi chất chứa hiểm nguy cho dạ dày, dù ai cũng khen ngon. Không ngon sao được khi thịt tươi, rau cải xanh dờn, dưa chua giòn rụm… Để rồi một hôm đọc báo mới hãi hùng. Mỡ động vật không rõ nguồn gốc bị quản lý thị trường Hà Nội bắt, phần mốc meo, phần đầy giòi bọ. Khi truy nguyên chủ số hàng không nói mục đích sử dụng nhưng ai cũng biết số hàng thậm mất vệ sinh này được tiêu thụ ở nơi nào. Rồi thịt heo, thịt gà, thịt vịt ế chợ, để lâu ngày được ướp phân urea nhằm bảo quản sắc độ tươi ngon, vào tay các hàng quán trở thành những miếng sườn nướng, cánh gà chiên vàng hươm, vịt kho gừng ngậy mỡ ăn đã thèm.

Cánh đàn ông thường tụ bảy tụ ba nhậu nhẹt. Mồi nhậu từ thịt cá. Thịt đã vậy, nên cá cũng đâu thoát khỏi bàn tay “nhào nắn tuyệt vời” của “thương trường”. Độc nhất là thịt rừng. Thứ đặc sản này lúc nào cũng là mồi nhậu rất “bắt”. Càng “bắt” bao nhiêu càng đưa chất độc vào cơ thể nhiều bấy nhiêu. Ai cũng biết thịt rừng được cánh thợ săn ướp uréa chôn giấu tại chỗ hàng nửa tháng trời để rãnh tay đi săn tiếp. Khi thu hoạch nhiều họ trở lại từng nơi đào lên đem về tiêu thụ. Sợ thịt rừng ăn nem cho chắc. Cũng dính. Cơ quan quản lý thị trường thành phố Cần Thơ đã từng bắt giữ một xe chở nhiều bao da heo mốc meo cung ứng cho một cơ sở làm nem địa phương. Tại thành phố này trước đây cơ quan quản lý thị trường còn phát hiện một cơ sở sản xuất thịt chà bông bằng giấy carton đánh tơi ướp gia vị. Dân ăn nhậu thưởng thức món “chỉ bông gòn da cá sấu” (chà bông khổ qua) cứ nức nở khen ngon. Rượu đưa cay cũng vậy. Tốt lắm là pha tinh một loại trái cây với cồn cao độ. Nhưng tệ hại hơn người ta chỉ cần bỏ vài ngàn đồng đã có một bịch “bột thần kỳ” pha 20 lít nước lạnh cho ra rượu gạo hoặc rượu nếp theo yêu cầu với giá hợp túi tiền. Bảo đảm nâng ly uống xong ai cũng chép miệng đánh khà khoái tỉ.

Kể sao xiết sự dối lừa trong chế biến thức ăn của hàng quán nhằm nâng cao lợi nhuận.

Thôi thì ăn cơm nhà. Nhưng vẫn không sao thoát được vệ sinh thực phẩm mất an toàn. Miếng thịt, con cá, đều đã nhiễm độc, do nguồn thức ăn và môi trường sống của chúng. Sợ quá ăn chay. Rau xanh ngằn ngặt không một con sâu là thứ đậm đầy hóa chất diệt côn trùng. Tàu hũ ngon nhờ… hàn the. Nước tương cũng đầy hiểm họa. Vụ “nước tương đen” ầm ĩ một thời khiến ai cũng kinh hoàng vì đã nuốt phải chất 3-MCPD, tác nhân gây ung thư. Ngay cả gạo cũng chẳng còn bổ béo gì, chúng có mặt nhờ thuốc trừ sâu và phân hóa học. Nước uống đâu không thoát khỏi “vòng vây nguy hiểm”. Cẩn thận, uống nước tinh khiết. Có dịp đi tới “hóc bà tó” nào cũng thấy có cơ sở sản xuất loại nước này. Nhưng cơ quan chức năng đã phát hiện khá nhiều nơi đóng chai nước tinh khiết là thứ chẳng khiết và tinh. Càng nói càng kinh sợ. Nhưng không lẽ không ăn, không uống? Thôi thì bắt chước ông bà than câu: “Khuất mày khuất mặt ăn đại!”. Bệnh việc đầy nghẹt người có lẽ vì các nguyên dân trên, bao giờ trời kêu thì mình… “dạ”!./.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009

Thời của những kẻ dối lừa


Thật ra tên chính thức của câu này là “Thời của những kẻ giết người”, tác phẩm mà nhà văn Mỹ Henry Miller đã viết hàng nửa thế kỷ trước. Chúng ta không ở trong thời đó, chỉ mới lân la bước tới ngưỡng “dối lừa” hiện đang “nở rộ” trên thị trường.

Không thể chối rằng không thấy sự việc dối lừa đang diễn ra hằng ngày hằng bữa trong cuộc sống muôn màu này. Đi dài theo đường phố, lề đường đầy dẫy những quầy hàng bán đủ thứ các loại cần thiết cho nhiều người. Bên cạnh những mặt hàng bày biện đẹp mắt là những lời mời rao hoặc dựng bảng quảng cáo, chẳng hạn: “8.000 đồng/1/2kg chôm chôm”. Nhìn thoáng qua ai cũng tắm tắc khen rẻ. “Lừa” vậy đâu bằng chuyện cua biển được cột bằng một “bó dây”!



Để quảng cáo cho các chuyến du lịch đang “mùa” suy thoái kinh tế, các hãng lữ hành đều trưng giá rẻ đến bất ngờ. Mà bất ngờ thật: Du lịch Thái Lan 4 ngày 3 đêm chỉ tốn trên 200 USD một người. Cứ tính xem: tiền vé máy bay đi về, tiền khách sạn 3 sao cũng đã “ngốn” hết số tiền bỏ ra mua tua, lại còn ăn uống, di chuyển nữa. Đem thắc mắc này hỏi một anh chuyên làm tua trong nước, anh cười nói: “Cẩn thận, coi chừng phải đóng thêm nhiều phụ phí cho chuyến bay (vì đi máy bay giá rẻ); rồi ăn nghỉ thất thường, ngày có ngày không…”.

Có thể bị lừa? Cả trong đấu thầu thi công cầu đường. Người ta bỏ thầu thật rẻ. Khi trúng thầu thì làm ngày này sang tháng nọ, công trình vừa mới đưa vào họat động đã xảy ra sự cố. Xem ti vi lúc nào cũng thấy hàng chữ chạy dài cuối màn hình, quảng cáo đủ thứ trên đời, ngắn gọn, hấp dẫn. Nào đoán số điện thoại của bạn và “người ấy” có “hạp” nhau không, số điện thoại của bạn có may mắn không, làm thế nào để biết “người ấy” có yêu bạn không, làm thế nào để biết vận mệnh bạn trong tháng này… Chỉ cần soạn tin nhắn gởi về số máy… là bạn sẽ có ngay kết quả. Làm theo, trước mắt tốn 15.000 đồng tiền cuớc nhắn tin. Còn trong phần dành cho “Thông tin thị trường”, bạn sẽ bắt gặp nhiều “chiêu” quảng cáo đầy hấp dẫn, như: “A lô xinh – Cuộc sống đẹp xinh”, chỉ cần soạn tin nhắn về số máy nào đó tham dự cuộc chơi bạn sẽ trúng được một chiếc Nouvo cáu cạnh trị giá những ba chục triệu đồng. Để thu hút người chơi, họ còn phát thêm hình ảnh và lời “bình” của một vài cá nhân: “A, tôi có được hai trăm ngàn đồng trong tài khoản rồi”, “Thật bất ngờ tôi đã trúng chiếc Nouvo mà cả đời tôi không dám nghĩ tới bằng một vài tin nhắn. A lô xinh – Cuộc sống đẹp xinh dễ chơi quá. Từ nay tôi sẽ chơi tiếp”. Trò chơi từ tin nhắn như vậy đã gây tác hại trầm trọng cho khá nhiều người. Báo Tuổi Trẻ ngày 5-3-2009 đã có bài cảnh giác về trò chơi “Đi tìm kho báu”, vậy mà vẫn có người “chết” vì một trò chơi tương tự có tên “Chiếm hữu”. Anh Nguyễn Mạnh Hưng, người chủ máy điện thoại di động để cháu mình là Dương Thanh Nhật lấy tham dự trò chơi này than: “Cháu tôi đoạt giải thưởng 2 chỉ vàng tương đương 4.200.000 đồng, đổi lại tôi phải gánh chịu hậu quả gần 20 triệu đồng cước nhắn tin”. Chưa hết, “nhờ” trò chơi này mà anh Nguyễn Trung Hiếu, 26 tuổi, chủ nhân số điện thoại 0949450xxx trúng chiếc điện thoại Nokia N86 (trị giá 10 triệu đồng) nhưng “bù lại” anh đã bị “chiếm hữu” tới hơn 147 triệu đồng trong tổng số tiền cước nhắn tin!

Cũng trên ti vi, trong những lần trực tiếp truyền hình các chương trình ca nhạc gây quỹ ủng hộ người nghèo, đồng bào bị thiên tai…, người dẫn chương trình trân trọng giới thiệu người (hoặc đại diện công ty, xí nghiệp) cầm tấm bảng to tổ bố có chữ số tiền họ trao tặng cho đại diện ban tổ chức, rồi cuối màn hình có hàng chữ giới thiệu tên người (công ty, xí nghiệp) ủng hộ số tiền nào đó chạy liên tục. Nghe và thấy cứ tưởng đơn giản, nhưng một giám đốc đài truyền hình than thở: “Trong số những người làm từ thiện thật, cũng có một số… lừa. Họ “chường” mặt lên đó cho oai vì khi chúng tôi đến nhận tiền là cả một chuỗi thời gian dài không có kết quả!”.

Làm từ thiện còn vậy thì trong chăm sóc sức khỏe cũng không thể không có người bị dối lừa. Nhiều người khốn khổ vì lao vào bán hàng đa cấp. Khổ nhất vì người mua cứ tưởng đó là thuốc thần. Đến phòng mạch tư nào bạn cũng “bị” mua thuốc do chính tay vị bác sĩ khám bệnh cấp. Toàn thuốc “trần”, không bao bì, nhãn mác. Uống hết thuốc, trở lại khám sẽ được nhận số thuốc chắc chắn khác vì vị bác sĩ này không có toa thuốc cũ để thực hiện tiếp phác đồ điều trị.

Dối gạt con người đâu đã đáng sợ bằng “lấy vải thưa che mắt thánh”. Năm nào, vía Bà Chúa Xứ ở núi Sam thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang cũng diễn ra trò này. Cúng Bà nguyên con heo quay rất tốn kém lại mất công đem về. Tiện “lợi” hơn hết là mướn con heo quay, cúng xong trả cho chủ. Con heo “quay” lia lịa một ngày không biết bao nhiêu bận, “quay” tới nỗi thối hoắc mà cũng cúng Bà được!

Ngẫm kỹ, chúng ta đang ở “thời của những kẻ dối lừa” làm sao không bị lừa dối. Cốt tủy của sự dối lừa nảy sinh từ lòng tham. Người có sản phẩm hoặc dịch vụ muốn có nhiều tiền để thỏa mãn tiện nghi vật chất đang ngày một “ê hề” trong đời sống. Người “tham dự” cũng vì những thứ ấy mà sa vào bẫy rập… chết người!

Tuy nhiên, rất may số lượng những kẻ dối lừa ấy rất “khiêm tốn” so với số đông bao la người sống lấy đạo dức ở đời làm trọng hôm nay./.