Hiển thị các bài đăng có nhãn Phóng sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phóng sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Lên đỉnh Tà Lơn

Tà Lơn tiếng Anh là Elephant Mountains. Đỉnh cao là Phnom Bokor, tức Tà Lơn theo cách gọi của người Việt. Đây là nơi các đạo sĩ nước ta thường lên tu tập, Đáng chú ý là các vị Nguyễn Thành Đa (Cử Đa, đạo hiệu Ngọc Thanh), Huỳnh Phú Sổ (Giáo chủ đạo Hòa Hảo), Ngô Văn Chiêu (Khai sáng một nhánh đạo Cao Đài)…

Con đường từ chân dãy Elephant Mountains lên đến đỉnh Bokor dài 34km, qua những tán cây xanh mướt hai bên đường. Các cây bá tùng thấp nhỏ, gân guốc như một thuật sĩ tu luyện lâu năm với lá của cây bách và cây tùng trên cùng một thân cây. Thấp hơn là địa lan và cây nắp nước cùng những ngọn cỏ lá mảnh và nhọn. Con đường quanh co, uốn lượn qua ba ngọn núi của dãy Elephant Mountains rộng lớn, phẳng lì nên khách thượng sơn chỉ mỗi việc mê mắt ngoạn cảnh.



Du khách và khách hành hương viếng tượng bà Mau trên đỉnh Bokor.


Tà Lơn huyền bí

Tà Lơn (Bokor, Kampot, Campuchia) là đỉnh cao nhất của dãy Elephant Mountains, 1.079m. Nơi đây có vô số khối đá bị nước biển ăn mòn với vỏ sò dính trên đó; cát trắng mịn nên người ta cho rằng hàng triệu năm trước Tà Lơn nằm sâu đáy biển. Một tác động nào đó khiến nó vươn mình lên cao khỏi mặt đất như ngày nay với biết bao huyền bí. Thời xa xưa đó, Tà Lơn được nhà văn Sơn Nam diễn tả trong tác phẩm”Thơ núi Tà Lơn” bằng bài vè mà ông ghi chép, có đoạn như sau: “…Xứ hiểm địa chim kêu vượn hú/Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan/Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn/Nhìn trên suối sấu nằm dư khúc/…/Loại thú cầm trông thấy chỉnh ghê/Giống chằn tinh lai vãng dựa xó hè/Con gấu ngựa tới lui gần xó vách/Bầy chồn cáo đua nhau lúc nhúc/Lũ heo rừng chạy giỡn bát loạn thiên/Trên chót núi nai đi nối gót/Cặp dã nhân kêu tiếng rảnh rang/Ngó sau lưng con kỳ lân mặt đỏ như vàng/Nhìn phía trước ông voi đen huyền như hổ/Hướng đông bắc con công tố hộ/Cõi tây nam gà rừng gáy ó o…”. Thật là một quang cảnh rợn người, duy nhất là nơi một số người Việt đầu thế kỷ 20 chọn làm nơi tu luyện. 


Phong cảnh ngoạn mục nơi chùa Năm Thuyền làm say đắm du khách.
 Với người Campuchia, theo truyền thuyết, Bokor được cai quản bởi một vị nữ thần tên Ya Mao (Veang Kh’mau hay Diay Mao, người Việt gọi bà Mau, dì Mau). Có hai truyền thuyết về Ya Mao: Ya Mao là một phụ nữ ở một làng thuộc khu vực Ream. Chồng bà đi làm ở Koh Kong. Vào một mùa mưa, người phụ nữ đi tìm chồng rồi bị bão chìm thuyền. Bà hiển linh, báo mộng cho dân chúng ở phía nam, bảo vệ ngư dân, dạy bảo mọi người sống tốt đẹp. Đôi khi bà cũng yêu cầu người dân cúng một biểu tượng Linga. Thuyết khác, Ya Mao giận những người đàn ông vì bắt chồng đi xa nên bà bắt đàn ông trong vùng phục vụ. Năm tháng qua đi, nghĩ rằng bà không còn sức nữa nên người ta cúng chuối... Tượng bà Mau trên đỉnh Bokor, do ông Sok Kong cho dựng. Tượng cao 22m trên bệ 15m, trên diện tích khoảng 1.500m2, vào tháng 2-2012, dưới Quốc lộ 3 có thể nhìn thấy trong ngày quang mây. Ngoài việc cúng chuối, người dân cùng dựng tượng linga để thờ. Hiện nay, trước mặt tượng bà Mau trên đỉnh Bokor mịt mù mây khói, về phía trái, gần biệt điện hoang phế của Sihanouk còn có tượng linga rêu phong theo năm tháng.

Khách tham quan casino trong khu phức hợp Thansur Bokor.

Vòng vèo qua những đỉnh núi nhiều trảng trống xe dừng lại bên dưới chùa Năm Thuyền (Wat Sampov Pram), là nơi cũng thu hút rất đông người đến cúng viếng. Chùa Năm Thuyền được xây dựng vào năm 1924 bởi vua Monivong, mang phong cách đặc trưng Khmer với thần Chim Garuda trên các cột chống. Chánh điện có những bức bích họa phật tích tuyệt đẹp có tuổi thọ 90 năm. Đối diện chùa có bốn tảng đá nằm song song, đằng sau có tảng đá khác cùng hướng về một phía. Tất cả giống như năm chiếc thuyền. Vì vậy chùa có tên Năm Thuyền. Theo truyền thuyết, ngày xưa, Hoàng tử Preah Thong vâng lệnh vua cha nhường ngôi cho em. Trong khi du ngoạn, chàng gặp nàng Nagani (Công chúa thủy tề) xinh đẹp. Họ yêu nhau rồi kết thành gia thất. Long vương tặng vợ chồng chàng 5 chiếc thuyền buồm khổng lồ chứa đầy châu báu làm của hồi môn, cùng 500 gia nhân. Họ dong thuyền và xây dựng vương quốc mới và chàng được xem như cha đẻ nền văn minh Khmer. “Thương hải biến vi tang điền”, nước biển rút đi, mặt đất trồi lên cao, 5 chiếc thuyền buồm biến thành đá như hiện trạng. 

Phía sau chùa Năm Thuyền là khu đất cỏ mọc rậm với nền nhà hoang phế. Từ đây, nhìn thẳng là vực biển xanh mờ, ẩn hiện xa xa trong trời mây là đảo Phú Quốc của nước ta. Nhìn sang phải, nơi mỏm đất nhô ra có ngôi chùa Khmer mới xây vàng chóe với tượng Phật cao to in nền trời. Từng đợt, từng đợt mây mù trắng đục từ vực biển trào lên như tấm voan lãng mạn và thơ mộng phất nhẹ qua đời. 


Từ chùa Năm Thuyền theo đường Nắp Ấm hiểm trở với nhiều tảng đá hình thù kỳ quái là đến khu vực đậm chất huyền bí của Tà Lơn đối với người Việt, là nơi có các điện: Tứ Giao, Minh Châu, Trung Tòa, Lan Thiên, Bình Thiên, Bàn Ngự, Hàm Long, Cán Dù…- nơi các vị tổ của Huyền môn, các vị giáo chủ bản địa Việt Nam chọn tu luyện, cũng là nơi các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đến tĩnh tọa, tham thiền.



Công viên quốc gia Bokor

Phong cảnh Bokor hoang vu, mát mẻ, có chỗ lạnh như xứ ôn đới, nên giới quý tộc Pháp cai trị đất nước Campuchia chọn làm nơi nghỉ dưỡng.Từ năm 1925, họ xây dựng nhà thờ, trường học, bưu điện, biệt thự, khách sạn cao cấp, casino… với tên gọi Bokor Hill Station, công nhận Bokor là Công viên quốc gia. Người Pháp lên đây tiệc tùng. Người Trung Quốc lên đánh bạc. Rất nhiều người thua cháy túi nhảy xuống vách đá phía sau casino. Thập niên 1950 – 1960, vua Sihanouk, hoàng tộc và giới tài phiệt Campuchia chọn nơi đây làm nơi nghỉ dưỡng, thư giãn. Thời hoàng kim của Bokor rồi cũng qua đi, tất cả các công trình đồ sộ đều hoang phế đến đỗi người ta gọi nó là “Thành phố ma”. Song, cái vẻ hoang tàn, kỳ bí ấy đã khiến các nhà làm phim chọn làm bối cảnh quay hai bộ phim “City Of Ghost” (2002) và “R-Point” (2004). 


Khách tham quan nào cũng thích có tấm ảnh kỷ niệm nơi phái sau lưng, bên trái, xa xa là đảo Phú Quốc (Việt Nam).

Đối lập với “nơi kỳ lạ nhất thế giới”, ngày nay Bokor là một phần của Công viên quốc gia Preah Monivong (1993), có khu giải trí nghĩ dưỡng phức hợp đang hình thành là Thansur Bokor, mang phong cách Khmer hiện. Quy mô khu nghỉ dưỡng rộng trên 60.000m2, trên độ cao 1.079m, với hơn 412 phòng nghỉ tiêu chuẩn và cao cấp; khu ẩm thực phong phú với tổ hợp 12 nhà hàng; khu giải trí quốc tế với các trò chơi đa dạng, không gian hội nghị, phòng tiệc rộng lớn, nhà hát tân kỳ sức chứa hơn 6.000 người; khu giải trí sang trọng với các phòng KTV, disco được thiết kế đặc biệt; khu spa đẳng cấp kết nối phòng tập thể hình, hồ bơi hiện đại; sân golf 18 lỗ được thiết kế bởi golf thủ lừng danh, Arnold Palmer; khu giải trí giáo dục trẻ em rộng trên 200m2… Thansur Bokor do tập đoàn Sokha thực hiện. Sokha là con gái tỉ phú đô la Sokkong, người sinh ra tại Prey Veng (Campuchia) nhưng có cha mẹ gốc Việt. Khởi nghiệp với 1,5 chỉ vàng, Sokkong giờ làm chủ nhiều ngành nghề trên đất Campuchia và Việt Nam. Ông là người Việt duy nhất được Quốc vương Sihanouk ban tặng tước hiệu Oknha (Công tước) vì những cống hiến cho xã hội… 

 
Chùa Năm Thuyền cổ kính

Con đường lên núi khi mới mở phải tốn 5 đô la Mỹ mới được vào, nay không còn nữa. Công viên quốc gia Bokor có nhiều thú hoang dã, các loài chim quý hiếm. Bokor là ngọn núi có thể nói đẹp nhất đất Chùa Tháp. Vào mùa mưa, trên lưng chừng núi dầy đặc sương mù, có khi cách 1m không nhìn thấy nhau. Đến với Bokor là đến với huyền thoại đậm chất dân gian và hiện thực sinh động đang dần biến nó thành nơi du lịch sinh thái hấp dẫn nhất Campuchia.

-----------


Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Một đêm với “vua đầm”



“Vua đầm” là tên phóng viên Hãng phim truyền hình TPHCM (TFS) ”tặng” ông Nguyễn Văn Hùng (Hai Hùng) - người có nhiều nhà chòi, người làm du lịch homestay duy nhất trên đầm Thị Tường 

Đầm Thị Tường là hồ nước tự nhiên lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long, còn được mệnh danh “Biển Hồ giữa đồng bằng”, rộng nhất 3km, dài 10km, diện tích mặt nước khoảng 700ha. Đầm được bồi lắng bởi phù sa sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc cùng nhiều kinh rạch của ba huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Cái Nước (Cà Mau). Tọa lạc giữa hai huyện Phú Tân và Trần Văn Thờ, đầm có ba đầm chính: đầm Trong, đầm Giữa và đầm Ngoài, nối với con sông tiếp quốc lộ 1A, sông còn lại chảy ra vịnh Thái Lan. Trong ba đầm, đầm Giữa lớn nhất, như trái bóng phình hết cỡ. Trên đầm có khoảng 20 chòi lớn nhỏ - nơi ngư dân canh thu hoạch cá tôm mà họ đặt chà, đáy nhỏ, nò, đó…, nằm giữa mênh mông trời nước...

“Vua đầm” Hai Hùng giới thiệu lú đựng ghẹm
sẽ tặng anh bạn trong đoàn chúng tôi


Ông Hai Hùng, người có nhiều chòi nhất trên đầm Giữa, trong đó có một chòi lớn nhất. Vì lớn nhất (10mx20m) nên người ta gọi “nhà nổi trên đầm”, hoặc “thủy biệt thự”. Trong nhà có đủ tiện nghi vật chất, thậm chí còn có chiếc xuồng cũ trồng rau cải, có chuồng heo, gà, vịt. Chúng tôi đến “thủy biệt thự” bằng mấy chiếc vỏ (vỏ lãi) do các con Hai Hùng vô “bờ” đón, và thích thú hòa mình vào cuộc sống vừa hoang sơ vừa khá hiện đại của cái ông “Robinson” giữa “hoang đầm" nầy.

Hai Hùng là một người cao lớn, râu mép hơi rậm, nói cười hệch hạc y chang người miền Tây cũ bây giờ hiếm gặp. 51 tuổi, cách đây khoảng 30 năm, ông đưa vợ ra đây cất chòi “độ nhựt” bằng tôm cá dưới mặt nước đầm. Mùa nào loại nấy, ngác, chẽm, nâu, đối, ghẹ, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua, ghẹm..., ê hề. Chúng, qua nhiều năm tháng, giúp Hai Hùng cũng như nhiều ngư dân khác trên đầm trở thành những người giàu có. Hai Hùng nói tháng 9 ghẹm nhiều vô kể, chạy máy chém văng xác ghẹm đầy vỏ, là nguồn phân, nhiều năm trước. Bây giờ, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cho biết: “Ở đầm, vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi. Ở đầm người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy”. Vô mùa ghẹm, dở dở cũng có được năm bảy trăm ký một ngày.

"Thủy biệt thự”trong chiều tà

Hai Hùng lái vỏ đưa chúng tôi dạo quanh đầm. Buổi chiều, mặt trời dần xuống thấp phía biển Tây, những tia nắng hấp hối đỏ sẫm lan tỏa những vệt lấp lánh mặt nước gơn sóng không gì đẹp bằng. Mấy ngư dân trầm mình trong làn nước lạnh, nhô đầu lên, thu hoạch thủy sản nhìn Hai Hùng chào nói rổn rảng. Hai Hùng nói mùa khô nước ngang ngực, mùa mưa, cao nhất trên dưới 1,6m. Hai Hùng cho biết cá ở đây lớn lên ra biển rồi trở về theo quy trình thủy sinh... Né tránh những hàng cọc tre hàng hàng lớp lớp nhô trên mặt nước, Hai Hùng bảo đó là khu nuôi sò của những tỷ phú Kiên Giang đến mướn mặt nước. Họ mua sò giống vụt xuống, đạp xuống sình, quây giữ bằng lưới mành. 

Vỏ chạy hết đầm mất hai tiếng đồng hồ chuyến tham quan lý thú với chúng tôi, khách thành thị. Nhưng khi về nhà Hai Hùng lại là một điều kỳ thú khác với trên sàn ván đước trải tấm nylon lớn rộng ê hề những món ăn chế biến từ thủy sản nước pha chè đầm Thị Tường. Nào canh chua cá ngác. Cá ngác kho. Ghẹm rang me. Bánh tôm tích chiên. Tôm thẻ đầy tú hụ một dĩa lớn. Một dĩa bự đầy nhóc những con cua yếm vuông – đặc sản chỉ có tại đầm. Chính những con cua nầy đã khiến chúng tôi mê mệt. Thịt chắc, ngọt ngon, không khai, ăn hoài không chán. Rồi tôm thẻ. Con nào con nấy lớn cỡ ngón tay cái. Ăn chưa kịp hết, con Hai Hùng đổ một dĩa lớn đầy... tiếp mồi! 

Dạo chơi trên đầm bằng vỏ lãi


Trong câu chuyện tầm tình nhiều lý thú, Hai Hùng cho biết đầm có tên chính là Bà Tường, theo truyền thuyết bà là người tiên phong khai thác đầm nầy, nên người ta kính trọng gọi đầm Bà. Về sau, gọi đầm Thị Tường. Nằm giữa đồng bằng nên đầm chiếm một vị trí môi trường sinh thái vô cùng độc đáo với vẻ hoang sơ bốn bề là những rặng dừa nước vươn cao ngọn lá lên trời, cho nên người ta còn gọi đầm Dừa Nước. Hào hứng với câu chuyện, uống rượu đế không đã, Hai Hùng vô buồng ôm hũ rượu pha mật ong rừng ra. Chị Hai Hùng, Dương Thị Lụa, thố lộ mật nầy do con chị đi “ăn” quanh rừng dừa nước ven bờ. Uống một ly rượu mật ong, thịt cua, thịt tôm... hầu như bay biến, đặc biệt cái lạnh của những ngày cuối năm, của những ngọn gió trời lồng lộng xuyên đầm chẳng hề hấn gì. Vui miệng, Hai Hùng kể, có đoàn khách Hàn Quốc do Nguyễn Ngọc Tư đưa ra chơi, uống rượu nầy khoái quá, “quá hớp”, bước xuống vỏ, té. Tuy “tắm bùn” dơ hầy nhưng anh ta vẫn cười vui hí hửng. Nói về Nguyễn Ngọc Tư, vợ chồng Hai Hùng rất thân mật, gọi ”Bé Tư”. Họ cho biết, trong năm 2013, “Bé Tư” đã đưa 12 đoàn đến tham quan, ăn nghỉ tại đây. Chúng tôi là đoàn thứ 13 do “Bé Tư” giới thiệu. “Bé Tư” không theo được vì nhằm ngày chủ nhật mắc ở nhà giữ con. 

Đêm dần buông. Nhằm ngày rằm, mặt trăng dần lên, tỏa những tia sáng yếu ớt nhưng kỳ ảo xuống đầm, là một cảnh quan cực kỳ khả tú. Chúng tôi ngắm trăng, uống rượu, thưởng thức mồi bén, nhưng chẳng ai “rớ” tới tô canh chua cá ngác và tô cá ngác kho, dù cả hai đều rất ngon. Ánh trăng càng lúc càng vằng vặc. Câu chuyện tới khuya rồi cũng tàn. Chúng tôi chìm trong giấc ngủ ngon trong căn “thủy biệt thự” có nhiều cửa nhưng không cửa nào có cánh. 

Chòi lá canh lú, dớn, lọp,lưới... khai thác thủy sản trên đầm

Chưa rạng sáng chị Lụa lo nấu một chảo cháo với tép thẻ phục vụ cái dạ dầy của chúng tôi. Tô cháo ngon, ly trà thơm càng ấm bụng. Chúng tôi “bàng hoàng” khi thấy những tia nắng ban mai yếu ớt rọi màu đỏ hoang sơ vào nhà. Nhìn ra. Buổi sáng tinh mơ, mặt nước đầm trong vắt như pha lê. Trong chốc lát, những rạng mây ngang đầu ngày nhuộm mặt nước đầm một màu hồng phấn, không họa sĩ tài ba nào có thể phối nổi. Mặt trời ló dạng, sương sớm tan dần, những vệt sáng đỏ ban mai lăn tăn gờn gợn khắp mặt đầm, cảnh quan càng thêm kỳ ảo. Chia tay, vợ chồng Hai Hùng bịn rịn. Chị Lụa “tức tối” trách sao ra đây không cho hay trước để chuẩn bị “đồ đạc”, nhất là mắm. Mắm ở đây ngon nhứt hạng, chỉ cần hé cái nắp đậy một chút đã nghe thơm lừng lựng mũi, như “Bé Tư” khen. Cô ấy còn nói “cái xứ ngộ, con người nhiệt tình, chưa kịp nói gièm thì đã dúi vào giỏ biểu mang về rồi”. Anh bạn tôi khoái món ghẹm rang me, hỏi mua, Hai Hùng tặng đem về ăn “lấy thảo”... 

Homestay nhà Hai Hùng một chiều, một đêm và rạng sáng, mỗi người chỉ tốn có 200.000 đồng. Rẻ rề. Nhiều đoàn khách ra đây, ngoài khách “Bé Tư”. Hỏi tại sao, Hai Hùng tâm sự người ta ra chơi, về post lên mạng, đồn đãi riết thành điểm du lịch sinh thái thứ thiệt như vầy. ●


■■■■■■■■■■■■■■■■■


Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Dọc đường Mũi Né



Từ Quốc lộ 1 rẽ vào phía bắc Mũi Né (Thành phố Phan Thiết, Bình Thuận) là con đường nhựa uốn lượn quanh co qua những dốc đồi với cảnh quan hai bên đường ngoạn mục. Mùa mưa, những ngọn đồi thấp dờn xanh những ngọn cỏ lún phún. Như thảo nguyên. Mùa nắng một màu đỏ hoang dại của đất sỏi khô cằn miền Trung trải dài ngút mắt. Phía chân trời xa nhấp nhô những ngọn núi xanh úa vàng mùa nắng nóng cùng những làng mạc chập chùng khuất nẻo. Đi thêm chút nữa, những đụn cát cao lượn lờ theo vòng bánh xe lăn. Đồi cát trải rộng hàng chục cây số như mời gọi khách lữ hành dừng chân làm một chuyến leo đồi thú vị. Thú vị thật, bước chân ta chìm lún trong những hạt cát chất chồng không kết nối. Nó len vào giày như níu kéo ta ở lại với trần gian. Nhưng một khi quyết tâm vượt lên, là ta đã lên tới thiên đàng. Đúng là cõi tiên. Những ngọn đụn cát gợn sóng với nhiều hình thù khác nhau chập chùng hiện ra trước mắt. Càng ngắm càng mê say vì gió khiến đồi cát biến dạng liên tục, đẹp ảo huyền như trò ảo thuật. Chính vì vậy mà người ta gọi nó là đồi cát bay. Tiện tay hốt nắm cát. Trới đất, sao mà mịn vậy. Như bột. Cát, có tới 18 màu. Đã đời hơn là ta thấy cảm giác mạnh trong trò chơi trượt cát. Mướn tấm nhựanho nhỏ, chân để một đầu, ngồi ngửa, hai tay níu sợi dây dính đầu tấm nhựa, từ trên đỉnh đồi ta thả mình xuống dốc. Tấm nhựa “xé cát” đưa ta lao vù vù xuống, như bay, khoái thiệt. Điều ai cũng ngạc nhiên là bên cạnh đồi cát có hai bàu nước: Bàu Ông và Bàu Bà, gọi chung là Bàu Trắng. Mỗi bàu sâu khoảng 19m, nước ngọt. rất hấp dẫn…. Từ đồi cát bay (còn gọi đồi hồng) đi bộ xuống biển. Nước trong xanh với những lượn sóng bạc đầu ùa bờ. Hòa mình trong những ngọn sóng ấy, bao nhọc mệt đường xa như tiêu biến.


Khám phá đồi cát bay.

Xe đưa ta xuyên qua hai hàng dừa cao vút. Biển bên trái. Bao la là biển với những chiếc thuyền dập dềnh neo đậu trong vịnh Mũi Né đẹp xinh. Tương truyền, Mũi Né là một mũi biển mà dân chài lưới xưa kia mỗi khi gặp bão thường đến đây trú náu (“né”). Tuy nhiên có người nói nguồn gốc tên gọi Mũi Né xuất phát từ một truyền thuyết khác. Xưa kia, công chúa Chuột, còn gọi là Né, của vua Chăm, năm 16 tuổi bị bệnh nan y, xây dựng am để tu hành tại Hòn Rơm, được dân địa phương gọi là Bà Né. Lâu dần, người ta đọc trại là Nà Né rồi thành Mũi Né đến ngày nay.

Lại êm ả lướt qua con đường rợp mát bóng dừa lả ngọn trong gió đại dương. Chợt nhớ năm xưa con đường này đẹp hết hồn. Màu đất đỏ nền đường như ánh lên trong sắc xanh mát của hai hàng dừa giao ngọn, hun hút theo vệt bánh xe qua. Còn bây giờ là con đường nhựa rộng lớn với những resort, khách sạn ken đầy hai bên.


Hoàng hôn trên biển Mũi Né.

Ghé một khách sạn nghỉ. Chiều xuống. Ngồi thư thả bên bờ biển nhìn những chiếc thuyền thúng lênh đênh đánh bắt cá. Kêu ngoắc. Mua mớ cá đối. Những con cá tươi xanh nằm trên bếp than hồng, trong chốc lát trở thành món ngon chấm muối ớt. Mặt trời đỏ lựng chìm dần xuống đại dương xanh thẫm. Biển lấp lánh như có hào quang. Cùng bè bạn nhâm nhi ly rượu ấm ngọn gió trùng khơi với đặc sản xứ này là gỏi cá mai trong suốt cuốn bánh tráng rau thơm, ốc hương giòn lạnh trong răng, cá gáy chiên chấm nước mắm Phan Thiết giằm ớt cay tê mê thần khẩu…

Đánh bắt cá bằng thuyền thúng.

Ngủ một đêm, sáng dậy, đi chợ Mũi Né. Chợ quê rộn rã nhóm với nhiều nông hải sản. Cá là cá. Khô là khô. Củ sắn còn nguyên lá cột thành bó ngộ nghĩnh. Đặc biệt, nguyên một con heo rừng xả thịt bày trên miếng vải nhựa. Heo rừng thứ thiệt vì da “tua tủa” những chân lông. Đặc biệt là bánh ướt. Bánh được tráng từng tấm bự bằng bột gạo rắc hành lá xắt nhỏ. Thưởng thức theo kiểu địa phương chỉ ăn với nước mắm chanh ớt, mỗi dĩa một bánh. Điểm tâm no nê bụng dạ 10 dĩa chỉ có 10.000 đồng. Còn ăn kiểu Bắc thì thêm chả quế, giò chả, “sang trọng” hơn, tất nhiên giá tiền phải cao hơn.


Trên đường về thành phố Phan Thiết, nhìn bên phải thấy nhấp nhô những ngôi nhà tráng lệ trên triền đồi cao. Khu biệt thự Mũi Né. Ghé vào, cho thấy đây là khu nhà cao cấp muốn ở phải có rất nhiều tiền, vì các bảng chỉ dẫn đều dùng toàn chữ Anh. Trong khu có sân gôn. Đứng tại đây có thể thấy biển và thấy cả đồi hồng cái thấp cái cao nối nhau chạy dài tới vô tận.



Trước khi vui đùa cùng sóng biển.

Lượn lờ đèo dốc, xe đi ngang ngọn đồi Bà Nà với ba ngôi tháp Chăm được xây dựng từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 9. Tháp lớn nhất cao 15m thờ thần Shiva, có bộ Linga – Yoni bằng đá đen nguyên khối. Gần tháp này là tháp thờ thần Lửa và tháp thờ thần Bò Nandin cách đó khoảng 50m. Cả hai tháp này thấp hơn và bị hư hỏng khá nhiều. Các nhà khảo cổ khi khảo sát đã thấy trong khu vực này có nền móng của một ngôi đền với nhiều tầng bậc đã bị sụp đổ. Đó là ngôi đền thờ công chúa Pôshanư, con gái vua Para Chanh. Theo truyền thuyết, công chúa Pôshanư ngoài sắc đẹp tuyệt vời còn là người đã ra công dạy làm các nghề: cá, dệt vải, gốm... cho dân Champa ở Pajai, tức Phú Hài (TP Phan Thiết) ngày nay. Vì vậy, khi công chúa qua đời, người ta xem như thần linh, như Bà Chúa Xứ, Bà Thiên Hậu, và lập đền thờ để tưởng nhớ công đức Bà. Khoảng tháng 10 Dương lịch hằng năm, nơi đây diễn ra lễ hội Katê để cúng thần linh, tổ tiên, cầu mưa thuận gió hòa, ngoài việc tắm bộ tượng Linga – Yoni còn dâng y phục cho Bà. Lễ hội đông vui với sự tham dự của đồng bào Chăm địa phương cùng du khách khắp nơi. Tiếng trống Baranưng, tiếng kèn Saranai rộn ràng khiến những diệu múa của các cô thiếu nữ mặc áo váy đẹp càng thêm uyển chuyển, hấp dẫn. Cụm 3 tháp Pôshanư đã được công nhận là di tích cấp quốc gia từ năm 1991.


Từ cụm tháp Pôshanư đi lên nơi cao nhất của ngọn đồi Bà Nà là đến phế tích Lầu Ông Hoàng. Lầu Ông Hoàng là nơi được Hàn Mặc Tử nhắc đến trong bài thơ “Phan Thiết, Phan Thiết”: “Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng/Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang/Nơi đã khóc đã yêu thương da diết”. Đó là nơi Hàn Mặc Tử đã cùng Mộng Cầm tìm đến trong thời gian hai người yêu nhau. Lên đồi Bà Nà, ta nên đi theo con đường đá sỏi, mới thích thú cảm nhận được mấy câu hát: “Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa. Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mặc Tử đã qua...” của Trần Thiện Thanh. Từ Lầu Ông Hoàng, phóng tầm mắt, ta thấy một phía biển xanh, một phía núi cao, phía kia là thành phố Phan Thiết xinh đẹp. Nếu đến đây vào lúc bình minh, hoặc chiều tà ta sẽ có dịp chiêm ngắm cảnh mặt trời mọc trên biển và cảnh hoàng hôn lãng mạn chìm khuất sau dãy núi xa xanh. Cảm xúc dâng tràn.

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

“Gió bụi” Tây Nguyên – miền Trung

Đoàn nhà văn TP Cần Thơ vừa tổ chức chuyến đi thực tế sáng tác tại một số tỉnh Tây Nguyên – miền Trung với 19 anh chị, do nhà thơ – nhà văn Lê Minh Phán làm trưởng đoàn, nhà văn – nhà thơ Phương Huy (tác giả văn bia Đồ Chiểu) phó đoàn. Xin ghi lại một vài kỷ niệm trong chuyến đi gọi là giúp vui bạn đọc.


Lạc đường vào Phước Long và…
Rời Bình Dương, xe “ngon trớn” đi vào Phước Long (Bình Phước). Ghé quán cà phê vừa nghỉ ngơi giải khát vừa hỏi đường đi Ban Mê Thuột. Vậy là phải lộn ngược mấy chục cây số đường nên tới Buôn Ma Thuột đã tối lắm rồi, khiến cô nhân viên của Hội Văn nghệ Đăk Lăk đứng ngồi không yên vì chờ đưa đoàn đến khách sạn. Tại khách sạn có anh chàng phụ trách một gian hàng. Anh ta mời đoàn nếm thử hương vị cà phê, đặc biệt rượu Ama Kông. Thậm chí còn chỉ dẫn cách ngâm thuốc với 20 lít rượu, ngâm thêm 200 gam chuối hột khô để có mùi đặc trưng của nó. Nhật Hồng trổ tài sao đó mà khi lên xe ra tiệm ăn, mặt mày hớn hở với chai rượu Ama Kông vừa mới được anh ta tặng để tiếp thị “trực quan” với đoàn mà người đầu tiên sẽ mua là Nhật Hồng.

Sáng hôm sau, Lê Khôi Nguyên, Phó chủ tịch Hội, Tổng biên tập Tạp chí Chư Yang Sin, đưa đoàn đi tham quan mộ vua voi Khun Yu Nốb và Buôn Đôn. Anh chị hào hứng đi cầu treo, còn cưỡi voi thì chẳng thấy ai leo lên lưng con vật khổng lồ này dù trước đó có nhiều vị nôn nao ao ước. Giá cưỡi voi tới 80.000 đồng/3 người/chuyến 15’. Ngay cả cơm lam đặc sản nơi đây cũng chẳng mấy ai “rớ” dù rất muốn thưởng thức! Có lẽ vì ăn sáng và mua vé tham quan tự túc nên ai cũng “thủ” túi tiền. Bù lại, anh chị được anh Khôi Nguyên “đãi” “đại tiệc” kiến thức về tên núi, tên sông, cùng nhiều chuyện về cái buôn “khổng lồ” này. Trên đường đi, nghe Khôi Nguyên kể sự tích “ly kỳ” của Ama Kông, nhất là “dược diệu” nổi danh của ông chỉ là rễ và lá cây bậy bạ cùng một số dâm dương hoắc Nhật Hồng tá hỏa tam tinh, mừng húm vì không phải mất 70.000 đồng mua 1 thang về ngâm rượu uống cho bà xã khen. Từ đó, anh có biệt danh “điếm vườn” vì lừa được “điếm núi” là anh chàng phụ trách gian hàng của khách sạn hết sức tía la mồm miệng kia.
Khi tham quan Nhà Bảo tàng dân tộc tỉnh Đăk Lăk, anh chị ai cũng “bần thần” trước 2 cây long não khổng lồ trong sân rộng bao la, có lẽ nó có mặt tại đây từ khi Bảo Đại chưa xây dựng biệt điện để nghỉ dưỡng nơi vùng đất Tây Nguyên này.

Buổi trưa, Khôi Nguyên nhiệt tình đưa đoàn tham quan vài điểm nữa, nhưng may quá, mới 13 giờ, chưa ai đến làm việc. Đoàn “phấn khởi” lên đường đi Pleiku (Gia Lai), lẽ ra đi Kontum,. Lý do: trước đó, Lê Chí biết được kế hoạch này nên đề nghị ghé Pleiku hay hơn, nhất là tham quan Ialy. Xe bon bon tới “thủ phủ” của Hoàng Anh Gia Lai, được Hội Đăk Lăk gọi điện giới thiệu trước, nên cô nhân viên Hội Văn nghệ Gia Lai đón đưa đoàn đến nhà khách Thanh Niên. Sau bữa cơm thân mật, anh em được cô đưa đi uống cà phê “ngon nhứt Pleiku”. Ai cũng khen, nhưng đều than đi về xa quá. Sáng hôm sau mới biết mình đi lạc đường, vì từ quán cà phê về nhà khách chẳng bao lăm!

Ialy với hồ nước bao la, nhất là cầu đập tràn “vĩ đại”, hẻm núi sâu hun hút, dù mùa này nước rất cạn. Vào đường hầm (dài 500m, rộng 4m) tham quan tổ máy mới thấy sức lực con người quả là đáng nể. Và tiền của đổ vào đây cũng thuộc hạng “kinh hoàng”.

Đêm vui “quá ể”
Tới Kontum khi trời còn nắng nóng, anh chị tranh thủ… giặt đồ, sau khi ổn định nơi nghỉ. Hội Văn Nghệ Kontum cử người đưa đoàn tham quan ngục Kontum, nhà thờ gỗ, cầu treo Konklor, uống cà phê Eva. Buổi cơm chiều diễn ra trong không khí thân tình do Hội bạn đãi, với sự hiện diện của Chủ tịch Hội Hữu Kim, Tạ Văn Sĩ… Buổi tiệc cũng hoành tráng, đặc biệt rất giống 2 hội Đăk Lăk và Gia Lai là có món cơm ăn với canh cua cà pháo mắm tôm. Bia uống nhiều hứng khởi nhờ có hai nhà thơ nữ trẻ của địa phương là Hồng Thủy Tiên và Doãn Mãi. Bữa cơm tưởng vậy nhưng vẫn tiếp tục khi Hữu Kim, Tạ Văn Sĩ cùng Hồng Thủy Tiên kéo đến nhà nghỉ… nhậu tiếp. Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, Nguyễn Trung Nguyên và tôi đãi bạn rượu thuốc mang theo từ Cần Thơ với sầu riêng núi mua ở chợ Kontum, Hồng Thủy Tiên mút sầu riêng ngon ơi là ngon. Rượu vào… thơ ra, Tạ Văn Sĩ đọc thơ lia lịa. Chưa đã… ngứa, Hữu Kim mời tất cả đi ăn cháo gà… “giảm cải”. Lại nhậu tiếp mấy chai Vodka Hà Nội. Say túy lúy, về khách sạn mới có… 3 giờ khuya.

“Sự cố” sông Hương
Tới Huế qua con đường Trường Sơn hoành tráng với nhiều cung đường đẹp vô cùng vậy mà chẳng được dừng lại chụp tấm ảnh nào. Qua hầm Hải Vân, tới khách sạn, do Hội Văn Nghệ Thừa Thiên – Huế giới thiệu, lúc xế chiều. Xe vừa ngừng đã thấy Võ Quê, qua điện thoại với Nguyễn Ngọc Tuyết biết đoàn sắp đến, đứng chờ với 2 chai Coca Cola đầy rượu làng Chuồn đặc sản quê anh. Võ Quê báo sẽ chiêu đãi đoàn đặc sản văn hóa ca Huế trên sông Hương vào tối mai rồi từ giã ra về chăm sóc bà vợ đau nặng nhiều tháng qua. Tối đó anh chị túa đi xem một vài nơi như cầu Trường Tiền, chợ Đông Ba, cầu Gia Hội… Sáng hôm sau tham quan lăng Tự Đức, Khải Định, Đan viện Thiên An (nhà thờ Hầm), chiều thăm chùa Thiên Mụ và Đại Nội. Có lẽ sợ thăm Đại Nội mất nhiều thời gian nên, theo Nguyễn Ngọc Tuyết, phó đoàn bảo chị hồi chuyến ca Huế trên sông Hương với Võ Quê. Phó đoàn thì bảo mình mệt nên nhờ Nguyễn Ngọc Tuyết báo với Võ Quê anh vắng mặt (?). Còn Nguyễn Ngọc Tuyết thì bảo phó đoàn nói như vậy có Lâm Thị Thanh Hà, Trúc Linh Lan nghe. Còn phó đoàn thì bảo nhờ Nguyễn Ngọc Tuyết xin lỗi Võ Quê ông không đi được. Buồn cười là sau khi thăm Đại Nội về, xe vẫn cứ tới bến đò Lê Lợi để xuống thuyền nghe ca Huế. Trưởng đoàn cùng một số người đứng chờ “sái cổ”, cuối cùng mới biết chương trình bị “xù”, lủi thủi về khách sạn.

Cứ tưởng Võ Quê giận, nhưng không, khi anh chị thân thiết với nhà thơ cố đô này mời nhậu chia tay lúc 19 giờ, Võ Quê vẫn tới. Để bày tỏ tình thân, Nguyễn Ngọc Tuyết, vẫn sợ Võ Quê từ chối, phải nói rất khéo về số tiền anh chị trong đoàn góp gọi là giúp bà xã anh trị bệnh. “Tiệc” toàn món Huế: bánh nậm, bột lọc, bánh bèo, đặc biệt bánh khoái… ăn với rau tươi và trái vả, nhậu với bia Huda. (Nhắc Huda mới chợt nhớ ông trưởng đoàn chỉ tấm bảng quảng cáo hỏi tài xế Huda là gì!). Tình thân bè bạn giữa Võ Quê với Lê Chí, Nguyễn Ngọc Tuyết, Trúc Linh Lan và tôi vốn có từ lâu nên “sự cố” nhỏ nhoi ấy chẳng hề chi. Chung vui và chung tiền đãi Võ Quê còn có Lâm Thị Thanh Hà, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng và Nguyễn Trung Nguyên. Tiệc nhậu đã vui càng vui hơn khi Võ Quê đãi “đặc sản” là “ca Huế trong quán cóc” với “Tương Tư Khúc” do anh sáng tác, Chầu văn… Dù đã trộng tuổi nhưng giọng ca của anh vẫn cuốn hút bạn bè, nhất là bốn thành viên mới: Lâm Thị Thanh Hà, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng và Nguyễn Trung Nguyên…

Cô đơn… trên đỉnh Bạch Mã
Trên đường rời Huế, Võ Quê gọi điện bảo Hội Văn Nghệ Thừa Thiên – Huế cử người đón đoàn hôm qua, sao chẳng thấy. Theo một vài người thì trưởng đoàn nói tưởng Võ Quê là Chủ tịch Hội đến đón nên không liên lạc với Hội! Trên đường, trưởng đoàn thăm dò ai đi Bạch Mã thì giơ tay, rồi nói: “Chỉ có mình anh Lê Chí”, nên cuộc “du sơn” bị hủy. Lê Chí hậm hực: “Hồi tối nhiều người đồng ý đi Bạch Mã vậy mà khi biểu quyết chỉ có mình tui!”. Té ra, anh là “bạn” của Võ Quê. Vì, trước kia, Võ Quê cũng đã từng bị “cô đơn” trên đồi Vọng Cảnh như vậy. May là Lê Chí không bị cho “về hưu sớm” như Võ Quê! Chợt nhớ, trên đường từ Kontum đi Huế, Lê Chí đề nghị ghé thăm hoặc nghỉ đêm Măng Đen. Bị… tài xế từ chối vì đường xấu, xe lớn không vô được, dù Lê Chí đã hỏi kỹ Tạ Văn Sĩ và được Hồ Thanh Điền (An Giang) đã lâu cho biết đường rất dễ đi. Vậy là “thiên đường biến mất” ngay trước mắt.

Xe bon bon lướt qua phá Tam Giang nổi tiếng ngay sát bên đường, mà ghé “vũng” gần Lăng Cô “để anh chị chụp hình”, rồi lướt qua đèo Hải Vân không thèm biết bãi biển Lăng Cô tráng lệ nằm bên dưới kia. Nếu ai hỏi cố đô còn gì sẽ “nhờ” “Trung niên thi sĩ” Bùi Giáng “kính cẩn” trả lời: “Dạ thưa xứa Huế bây giờ/Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”!

Ghé đỉnh đèo Hải Vân. Anh chị háo hức chụp hình “Đệ nhất hùng quan”. Tới Đà Nẵng, lấy phòng. 12 giờ 30 phó đoàn kêu đi ăn, dù đã báo 13 giờ. Xuống xe, trưởng đoàn nghe nói ăn xong đi Hội An, bèn lật đật trở lên phòng lấy đồ! Thăm làng đá mỹ nghệ Non Nước, Hội An, trở về, tài xế ghé bãi Mỹ Khê để đoàn tắm biển. Nhưng chẳng ai tắm vì có ai biết để mang theo đồ tắm.

Buổi tối, Lê Chí hẹn gặp Thanh Quế. Lê Chí cùng Nguyễn Ngọc Tuyết, Trúc Linh Lan, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, Nguyễn Trung Nguyên và tôi ra quán bình dân nhậu bia với hải sản. Thanh Quế nói liên tục đủ mọi chuyện trên đời, vừa nói vừa lấy tay kéo sụp lưỡi trai chiếc nón vừa hất nó lên. Ông bảo Hội Nhà Văn nên mời người viết vào, không nên chọn lựa như lâu nay, ai sống được thì sống, còn không thì bị tiêu vong theo quy luật. Đặc biệt thú vị là ông không biết sử dụng máy vi tính, điện thoại chỉ nghe và gọi, ai nhắn tin cho ông là “ngu lắm”!

Sáng, tài xế đưa đoàn tới Hội An, chạy loanh quanh rồi hướng thẳng tới Vĩnh Điện… ăn sáng. Anh chị chê mì Quảng ở đây quá tệ. Sao không ăn mì Quảng hoặc cao lâu ở Hội An? Ghé Mỹ Sơn. Những đền tháp hoang tàn vẫn cho thấy nét tráng lệ xưa của nó. Đặc biệt sướng mắt sướng tai khi được thưởng ngoạn văn nghệ Chăm, nhất là màn múa Apsara hấp dẫn.

Tới Quy Nhơn, sáng thăm mộ Hàn Mặc Tử, trên đường tới Tuy Hòa (Phú Yên), ghé Gành Đá Dĩa. Đẹp hết hồn. Khi ăn trưa quán Thạch Sanh. Thấy viên đá trứng bự cỡ chiếc gối đặt trên chậu kiểng, Nhật Hồng “chíp” trong bụng. Ăn xong đến gặp chủ quán, tỉ tê “chiêu” “điếm vườn”: Nhà anh có nhiều kiểng đẹp quá, xứ tôi cũng có. Nhưng xứ anh đá nhiều còn xứ tôi không có. Anh có thể cho tôi xin viên đá kia làm kỷ niệm. Ông chủ quán hỏi ý cậu con trai. Anh ta ngần ngừ, ông thúc cho đi, mình ở đây dễ kiếm hơn ông anh miền Tây yêu đá xứ mình. Cậu con đồng ý, khiêng lên xe theo lệnh cha anh… Tối, Hội Văn Nghệ Phú Yêu đãi đoàn tại Trung tâm giải trí & sinh thái Thuận Thảo – một “đại gia” địa phương – với “kính thưa các loại bánh” cùng bia. Chủ tịch Hội Văn Nghệ Phú Yên Nguyễn Ngọc Quang cùng Phó chủ tịch Hội Huỳnh Thạch Thảo tiếp đoàn. Xôm tụ hơn là cô Diệu Trang và cô “Nhậm Doanh Doanh” văn phòng “tiếp bia”. Nhắc Trần Huyền Ân (Trần Sĩ Huệ) mới biết “Nhậm Doanh Doanh” là con ông.

“Sống sót trở về”
Sau khi thăm Tháp Nhạn, Nguyễn Trung Nguyên rủ Đặng Hoàng Thám, Nguyễn Hồng Chuyên, Thành Nam “tiếp rượu” trả lễ Huỳnh Thạch Thảo. Chưa “đã”, ba mạng này kéo nhau đi karaoke. 12 giờ khuya, Đặng Hoàng Thám “sống sót trở về” báo cáo: Karaoke 95.000 đồng/giờ, bia Sài Gòn 20.000 đồng/chai. Tiệm có 3 em miền Tây đẹp não nùng. Hát một hồi, Thám “lặn” xuống đất, bảo vệ hỏi đi đâu, bảo đi toillet, hỏi sao không đi trên đó, bảo tao muốn đi đâu thì đi. Thấy bảo vệ mặt mày bặm trợn với mấy con chó berger hì hợm, Thám hoảng hồn nói mai tao đi công chuyện sớm chớ không phải đi chơi, cho tao ra. Không hiểu sao Thám qua lọt dãy hàng rào cao 2-3m của tiệm karaoke về phòng. Mừng quýnh!

Chia tay Phan Thiết
Tới Phan Thiết (Bình Thuận) vào lúc hoàng hôn. Ghé Hội Văn Nghệ Bình Thuận, được hướng dẫn tới khách sạn rồi đưa đi ăn tại khách sạn nhà hàng Bình Minh ở Đồi Dương. Tại đây có mặt Chủ tịch Hội Đỗ Kim Ngư, 2 phó chủ tịch Hội, Lê Nguyên Ngữ cùng 2 cô văn phòng “bụng to”. Lại đặc sản biển với bia. Sau đó, tôi hẹn Hồ Việt Khuê đến chơi. Anh ta đãi tôi, Đặng Hoàng Thám cùng 2 anh bạn địa phương của Thám cùng Nhật Hồng chầu bia Budweiser (Mỹ, 20.000 đồng/chai) với cá bò chiên. Chưa chịu thôi, rủ đi massage “rũ bụi đường xa”.

Mọi bữa 7-8 giờ sáng mới lên đường, vậy mà bữa nay sáu giờ sáng rời khách sạn, chẳng tham quan nơi nào của Phan Thiết cả, vì anh chị mệt muốn về nhà sớm! Chính vì vậy mà tôi đành khất Hồ Việt Khuê đừng chở Nguyễn Bắc Sơn đến như đã hẹn. Tiếc quá, không có dịp trò chuyện với tác giả “Chiến Tranh Việt Nam & tôi”!

Tổng kết chuyến đi, có thể nói bị “nghẹn” khá nhiều. Lý do là vì có mặt Hoài Tường Phong - nhà thơ “Trăng nghẹn” trong chuyến đi này./.
-------------

“Nhậm Doanh Doanh” quá sức “sung”!


Huỳnh Thạch Thảo cụng ly với “Ông Trăng nghẹn” trước sự “chứng giám” của Nhật Hồng


Đặng Hoàng Thám “sướng hé” khi quàng tay qua vai Hồng Thủy Tiên.

Võ Quê ca Huế trong quán cóc.


Thanh Quế say sưa “tám”.

Doãn Mãi “tiếp cận” Lê Chí.



Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009

Bộ sưu tập “đồ bỏ”




Người ta chơi đồ gốm sứ đời Minh, Thanh hoặc các loại hồng ngọc, lam ngọc, hoàng ngọc... nhưng ông thì lượm lặt những thứ được xem là chẳng có giá trị gì, bị ngay cả người Việt Nam coi thường, làm thành bộ sưu tập cho riêng mình, trở thành “tên tuổi lớn” trong làng chơi đồ cổ nước ta


Người đàn ông vừa bước sang tuổi lục tuần ấy có dáng người cao to, vạm vỡ. Ông sống trong căn nhà mà nhiều người dân thị trấn Cai Lậy (Cai Lậy, Tiền Giang) kêu là “biệt thự”. Ngôi nhà tường có sân rộng rãi với một số hoa kiểng của ông tọa lạc trong khuôn viên chừng 1.000 mét vuông. Buổi trưa, trời mưa tầm tã, chúng tôi ngỡ ngàng nhìn thấy nơi bậc tam cấp nhà ông để những thùng giấy, những khay nhựa, chẳng thứ tự gì, dường như chúng sắp được ông đem vứt bỏ. Đó là những tượng ông Địa nằm lộn xộn trong mấy cái thùng giấy chưa đậy nắp, mấy cái khay nhựa “lổn nhổn” những đồng tiền xu bằng kẽm, đồng này dính chặt đồng kia, có cái sứt mẻ, cùng vài ba xâu tiền nằm “cong queo” như tủi thân “đồ cổ” của mình. Thấy chúng tôi chăm chú nhìn có vẻ tiếc rẻ, ông chép miệng nói tỉnh queo: “Ba cái thứ đó ở Tiền Giang này cứ mà “đổ đống”. Theo lời ông, đó là những đồng tiền kẽm được đúc vào triều Nguyễn Gia Long. Triều Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng số lượng tiền lưu hành trong dân còn nhiều lắm, dù người ta cho rằng Nguyễn Ánh đã tiêu hủy nó hết. Rồi ông khẳng định: “Tiền của nước mình có mặt chừng 1.000 năm trở lại. Đồng tiền quý là được đúc vào thời Hàm Nghi. Ông này chỉ làm vua có 8 tháng nên đúc tiền chẳng được bao nhiêu. Đã vậy những đồng tiền này đã bị nấu chảy để đúc thành đồng tiền khác khi vua Đồng Khánh lên ngôi. Điều này cho thấy, đồng tiền quý hay không không phải do niên đại mà là khó kiếm”. Chính vì vậy mà tiền kẽm bị ông bỏ lung tung rải rác trong hàng ba quanh nhà. Có lẽ đó là tiền kẽm Nguyễn Ánh cho đúc xài tạm bợ ở đồng bằng sông Cửu Long trên đường bôn tẩu quân Tây Sơn.


Không biết cái này có quý không mà ông phải vô buồng lấy ra. Đó là cái khung gỗ lên nước đen mun, một đầu cao do “gối” lên một bệ gỗ, đầu còn lại nằm sát đất. Khung gỗ ấy được khoét lõm bốn rãnh, mỗi rãnh vừa vặn bề hoành đồng tiền kẽm khi được xỏ xâu. Ông nói đó là cái thước đo tiền kẽm. Nhưng nói vậy là nói theo bây giờ, chớ khi xưa người ta gọi nó là “cái di”. Từ đầu này đến đầu kia của một “lõm” là nửa quan, tức 300 đồng tiền kẽm. Ông bảo nhiều người đọc tác phẩm Trương Vĩnh Ký thấy từ “cái di” mà chẳng hiểu là cái gì. Cũng dễ hiểu vì cái di đã không được sử dụng cả trăm năm nay, khi tiền xu, tiền kẽm đã trở thành giấy bạc.

Đồ gỗ ông chơi còn có rất nhiều bài vị thờ thần mà ông sưu tầm từ các ngôi đình ở lưu vực sông Cửu Long, trong đó có bài vị Thần Nông. Cũng bị bỏ trong các thùng giấy, nằm chồng sấp lên nhau. Cùng tình cảnh ấy là mấy bản in khắc gỗ, đặc biệt là bản khắc gỗ để in “cò bay ngựa chạy” bán trong ngày 23 tháng Chạp âm lịch để người dân cúng đưa ông Táo về Trời. Bản khắc gỗ này có hai mặt. Ông đưa cho chúng tôi xem một mặt, tay chỉ vào chân con ngựa, nói: “Đây là bản in cúng ông Táo vào năm đủ, con ngựa thong thả đi”. “Và đây là bản in dùng cho năm thiếu, con ngựa co giò phóng tới. Phải chạy cho nhanh vì năm đó ngắn quá”, ông trở mặt tấm bản khắc gỗ chỉ chúng tôi xem rồi cười sung sướng.

Bộ sưu tập gỗ của ông còn có mấy cái nọc cấy của người Khmer Nam bộ. Cũng nằm lăn lóc bên nhau trên chiếc bàn chứa đủ thứ thập vật, nơi hàng ba ngôi nhà. Tuy đã lâu năm không sử dụng, không biết ông có cầm nắm hay không mà cái nào cũng lên nước bóng láng dù đã phủ lớp bụi mỏng. Ông nói đồng bào dân tộc này có “hoa tay” lắm, vật dụng nào của họ làm ra cũng sắc sảo và xinh đẹp. Tuy nhiên về mặt tiện dụng thì còn khiếm khuyết. “Nọc cấy của người Việt khom lưng thấp, của người Khmer thì khom lưng cao, mà cao mau mỏi hơn thấp”, ông phân tích.

Trong gian phòng khách cũng bề bộn “hằm bà lằng” thứ, cái để trên bàn, cái nằm dưới nền gạch bông. Nơi góc tường bên trái phòng, treo lủng lẳng mấy cái tù và. Ông gỡ xuống. Tù và lớn có, nhỏ có, vừa vừa cũng có, đều đen mượt. Ông cầm một tù và lên và bảo đó là đồ giả, được làm bằng nhựa. Cũng đen bóng thấy mê. Tù và thật phải làm bằng sừng trâu. Ông cắt nghĩa: “Tù và, ốc và còi là những dụng cụ báo cho nhân dân ta biết điều gì đó xảy ra. Theo Huỳnh Ngọc Trảng, ở Quảng Nam người ta thổi tù và báo cho biết trong làng có đám tang. Đó là loại tù và nhỏ, có gắn lưỡi gà, nên thổi nhẹ. Còn ở trong Nam thì tù và cất lên báo hiệu cho người dân khởi hành ra ruộng cấy. Tù và Nam lớn, thổi rất nặng. Hồi Nam kỳ khởi nghĩa, tù và đã dõng dạc được cất lên. Năm 1989, kỷ niệm 40 năm ngày Nam kỳ khởi nghĩa, chỉ còn 1 – 2 vị thổi được tù và nhân ngày lễ này. Bây giờ, chẳng còn ai biết thổi tù và! Riêng thầy phù thủy đồng bào dân tộc Khmer thì thổi còi khi cúng kiếng. Khu vực Đông Nam Á, nhiều dân tộc dùng tù và. Tù và sừng trâu là biểu hiện nền văn minh lúa nước”, ông kết luận.



Bước sang lĩnh vực đồ đất nung, nhà ông “tràn ngập” những bức tượng ông Địa. Mỗi ông một dáng thế, một nét mặt, một nụ cười khác nhau. Ông nào cũng được tô vẽ lòe loẹt, tay phe phẩy chiếc quạt to bè với nụ cười rộng tới mang tai, trông vừa ngộ nghĩnh vừa vui mắt. Theo tư liệu, ông Địa còn được gọi là Thổ Công, Thổ Địa hoặc Thổ Thần, là một vị thần trong tín ngưỡng Á Đông, cai quản một vùng đất đai. Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó. Chính vì vậy mà dân ta có câu: “Đất có Thổ công, sông có Hà Bá”. Thường, trước khi bắt đầu công việc “động thổ”, như cất nhà, đào ao, mở vườn, mở ruộng, đào huyệt mộ..., người ta đều bày mâm cúng vị thần này. Ông Địa là cách gọi riêng của người Nam bộ. Do ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nhiều nơi người ta còn gọi ông Địa là Thần Tài. Ông Địa được nhiều người xem là vị thần quan trọng nhất trong gia đình. Tổ tiên có công sinh thành dưỡng dục nên được tôn vinh nhất nên bàn thờ tổ tiên ở giữa nhà - vị trí quan trọng nhất; bàn thờ ông Địa ở bên trái ngay sát nền nhà - quan trọng thứ hai. Nhưng khi cúng lễ tổ tiên, người ta đều phải khấn Thổ Công trước để xin phép cho tổ tiên về. Mỗi sáng sớm, trước khi mở cửa hàng, người ta đều đốt một điếu thuốc lá gắn vào tay ông Địa, bày ly cà phê (đen hoặc sữa) trước mặt ông Địa rồi thắp mấy cây nhang thành kính mong cầu ông phù hộ làm ăn phát đạt. Cho tới nay, ông Địa vẫn còn được nhiều nhà trọng vọng thờ kính, nhất là những gia đình làm ăn, buôn bán. Và, tùy theo nơi sản xuất mà ông Địa có hình dáng khác nhau. Đó là điều hấp dẫn mà người sưu tầm khó lòng tìm cho “đủ bộ”.

Đồ đất nung của ông còn có nhiều loại đèn. Đèn chân cao xài bấc, đèn chân cao có dĩa đựng dầu. Đó là các loại đèn của người Tiều (Triều Châu) hoặc người Quảng (Quảng Đông, đều thuộc Trung Quốc) sử dụng, được sản xuất tại Lái Thiêu (Bình Dương). Hồi xưa, người ta xài dầu lửa, đặc biệt là dầu mù u. Để có loại dầu này, người ta đem trái mù u hấp rồi xắt nhỏ mới đem ép ra dầu. Lấy dầu này quết với bông gòn rồi quấn quanh cọng dừa, khi đốt cho lửa sáng, đặc biệt có mùi thơm dễ chịu.

Gia tài của ông không chỉ có những thứ “thường thường” như vậy, vì còn có nhiều bảo vật đang cất bên trong các căn phòng, dù ông nói mình không chơi những đồ quý giá, như gốm sứ. Bởi, ông còn “khoe” với chúng tôi nhiều bảo vật khác, như sắc vua Tự Đức phong cho Phạm Đăng Tuyên làm đội trưởng Quảng Ngãi, theo ý chỉ bà Từ Dụ; 4 bản Truyện Kiều, trong đó bản in năm 1872 là bản Nam xưa nhất; cùng nhiều sách cổ và “hằng hà sa số” những cổ vật khác mà chúng tôi ngờ chưa được ông tiết lộ.

Người có bộ sưu tập “kỳ quặc” ấy là ông Trương Ngọc Tường, sinh năm 1949. Mục đích sưu tập những thứ “đồ bỏ” ấy của ông là nhằm tạo cho mọi người ý thức bảo tồn giá trị văn hóa dân gian, “nắm” được cách ăn, thói ở và sự giao tiếp xưa đang dần mai một trước đà cơ khí hóa vũ bão hiện nay.


----------------

- Ông Trương Ngọc Tường và bức tượng ông Địa.

- Tiền kẽm và cái di đo tiền.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009

Nam Bộ - “vương quốc” mắm đồng




Miền Bắc nổi tiếng nhất với mắm tôm, mắm cáy, mắm rươi…; miền Trung phong phú với mắm nhum, mắm sò Lăng Cô, mắm ruột…; nhưng Nam Bộ mới chính là “vương quốc” mắm.

Dọc đường đi, bất cứ nơi nào, ở Nam Bộ, bạn cũng nghe mùi mắm đặc trưng phả thơm lừng trong không gian. Đó là mùi nước mắm mà hầu như ở đâu của địa phương này cũng đều có “hãng” sản xuất. Nước mắm nổi tiếng nhất ở Nam Bộ là “nước mắm hòn” (Phú Quốc) nhưng không vì thế mà lấn át được các hãng nước mắm trong đất liền. Trong khi Phú Quốc sản xuất nước mắm bằng nguyên liệu cá cơm thì trong đất liền ngoài ủ chượp loại cá này người ta còn làm nước mắm bằng cá linh đặc sản vùng tứ giác Long Xuyên. Hơn thế nữa, ở đây còn có loại nước mắm đồng, ngon không kém, được làm từ những con cá đồng.



Cũng làm thủ công dùng trong gia đình, dân miền Tây còn có đặc sản nước mắm cua đồng. Là động vật sống trong ruộng lúa, cua đồng dễ kiếm vào mùa mưa, nhất là khoảng tháng 9 tháng 10 Âm lịch. Cua đồng đem về nhà rửa sạch, giã nhuyễn, pha nước lạnh, lược lấy nước cua, trộn muối hột. Ủ 20 ngày sẽ có vị mặn dịu, hậu ngọt. Muốn nước mắm cua đồng thơm ngon thì thêm vài lát gừng hay ớt sừng chín đỏ. Nước mắm là dung dịch đạm mà chủ yếu là các acid amin được tạo thành do quá trình thủy phân protein cá (cua) nhờ hệ enzym protease có trong cá (cua). Nước mắm “thường” đã ngon mà nước mắm cua đồng lại càng ngon hơn. Nước mắm cua đồng giàu đạm, chất lượng hơn các loại nước mắm đã làm nên danh tiếng nước ta. Vì nước mắm cua đồng tươi múc ra chén tỏa mùi thơm, trong màu vàng ươm nổi lên lớp gạch cua bắt mắt. Nước mắm cua đồng ăn với bún và rau sống, ăn với cá kho thì ngon lắm. Nhưng tuyệt vời hơn, gặp ngày mưa rỉ rả, thức ăn khan hiếm, chỉ cần tô cơm nguội chan nước mắm cua đồng cũng thấy “đã” cái thần khẩu! Nhưng cầu kỳ hơn, tuyệt vời hơn là cách làm nước mắm cua gạch son của dân U Minh. Cua gạch son rửa sạch, cho vô hũ muối đúng 1 tuần, lấy ra đánh tan gạch cua với lòng đỏ trứng gà, đường. Một con cua chỉ làm được 4 chén nhỏ nước mắm. Loại này ăn với cái gì cũng ngon. Có lẽ vì vậy mà nó “õng ẹo”, chỉ ăn được vào ngày thứ bảy sau ủ chượp, sang ngày thứ 8 thì “vứt đi!

Ở Giồng Giếng (Ba Động, Duyên Hải, Trà Vinh) có nước mắm rươi - đặc sản tổ truyền. Từ tháng 10 đến tháng chạp Âm lịch, rươi nổi lên đỏ đặc mắt nước sông ven biển. Người địa phương dùng bất cứ dụng cụ nào “hớt” rươi về làm nước mắm. Tương truyền, khi Nguyễn Ánh lánh nạn về đây, được thưởng thức rồi mê mẩn nước mắm rươi luôn. Khi ông trở thành vua ngoài Huế, loại nước mắm sướng tê đầu lưỡi này trở thành “nước mắm ngự”.

Nước mắm Nam bộ còn phong phú trong cách ăn. Tùy theo món mà ăn với nước mắm cốt, nước mắm y hay nước mắm pha. Nước mắm pha cũng có nhiều kiểu cách tùy theo thức ăn. Thường người ta pha nước mắm với nước đun sôi để nguội, nhưng muốn có chén nước mắm pha “ra ngô ra khoai” thì phải dùng nước dừa xiêm. Dừa phải là dừa nạo, dừa non cho nước chua còn già rám thì nước chát. Nhưng nước dừa phải nấu cô lại trên bếp lửa liu riu mới ngon. Vừa đun vừa hớt bỏ bọt cho trong nước. Cầu kỳ là vậy để tăng thêm hương vị của món ăn. Món ăn dù ngon cách nào mà chén nước mắm trong hoặc chén nước mắm pha không đúng yêu cầu thì coi như chẳng còn “hồn vía” gì nữa!



Tham gia vào lĩnh vực nước chấm còn có con hàu. Loại nước chấm này mới có mặt ở Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu) trong vài năm nay nhưng đã “hút hồn” khách sành ăn. Lấy thịt hàu sữa rửa sạch, để ráo, trộn với muối, ớt bột, rượu cùng một ít gia vị khác rồi cho vào chai, đậy kín nắp. Hai mươi ngày sau, phần thịt nổi lên mặt, phần nước có màu đỏ tươi, đó là nước mắm hàu. Càng ủ lâu, nước mắm hàu càng ngon. Nước mắm hàu được người Côn Đảo pha với tỏi, ớt, chanh, đường, ăn với các món cuốn bánh tráng…

Có lẽ nhờ vậy mà từ nhiều chục năm nay nước mắm của ta đã vang danh trên thị trường ẩm thực thế giới. Người ngoại quốc đã gọi “chính danh” nó là “sauce nuoc mam”, thậm chí đơn giản với từ “nuocmam”, chứ không dùng từ “fish sauce” hay “la saumure” như trước.

Cua đồng đâu chỉ làm nước mắm, người Nam bộ còn làm thành mắm. Để có mắm cua đồng, người ta nướng cua chín vàng, tách bỏ mai, yếm, ngoe và phổi. Trộn cua với một nắm hương nhu (lá é trắng), chút nước mắm nhĩ, chút bột ngọt cùng ớt thật cay. Có nơi người ta dùng cua sau khi làm sạch đâm nát trước khi trộn với các gia vị vừa nêu. Chỉ cần “độc diễn” mắm cua đồng thôi là bữa cơm nhà nghèo đã ngon căng bụng.

Cũng như vậy, mắm ba khía đúng chấu cũng giúp bà con nông dân có bữa cơm đạm bạc nhưng ngon và giàu dinh dưỡng. Ở U Minh, Rạch Gốc (Cà Mau), ba khía thường “hội” trong 3-4 đêm tháng mười Âm lịch. Ba khía bắt về rửa sạch, thả trong khạp nước muối. Độ mặn của nước muối quyết định chất lượng mắm ba khía, đòi hỏi người làm phải có nhiều kinh nghiệm, làm ba khía “tới”, để càng lâu càng ngon. Ăn ba khía “trơn” đã ngon nhưng ngon hơn và đúng “bài bản” thì phải dùng ba khía trộn. Ba khía rửa với nước sôi, tách mai, đập sơ hai càng trộn với chanh, đường, tỏi, ớt, khóm bằm, xoài xắt sợi, khế hườm xắt sợi, cóc sống đập dập. Không được phép ăn liền, phải để ba khía ngấm gia vị một ngày mới thưởng thức trọn vẹn cái ngon… cầu kỳ. Nếu gặp ba khía có đùm trứng, món này sẽ ngon, nhưng đâu thể sánh bằng ba khía gạch son (màu đỏ) hoặc gạch bùn (màu xám), cả hai thịt chắc, mút nhẹ thịt ba khía trong càng, trong ngoe chạy “tuốt luốt” vô họng, tuyệt vô cùng. Đâu đã hết, nước ba khía trộn dùng để chấm các món luộc là “số dách”. Cũng tinh túy như vậy, đối với bọn “nhóc”, ăn ba khía chỉ cần lấy cái mai trộn với cơm nóng là đã thấy đã đời cái bụng rồi!

Mắm ruốc Bà Rịa Vũng Tàu trứ danh với khách sành ăn từ hơn nửa thế kỷ qua. Con ruốc giống con tép nhưng nhỏ như cọng tăm, chỉ có ở biển vào mùa mưa. Ruốc lựa thật sạch, ướp muối bọt 1 đêm trước khi phơi. Phơi ba tháng cho ráo nước, đem ruốc quết thật nhuyễn, cho vào lu, phơi nắng mỗi ngày. 45 ngày sau chao đường rồi ủ tiếp trong lu. 30 ngày sau vớt ra thau phơi 10 ngày là xong. Mắm ruốc rất dễ ăn. Đơn giản là đánh với trứng chiên hoặc hấp. Chịu khó với món ngon thì xào với ba rọi, sả, ớt để giành ăn lâu ngày. Khi ăn chỉ “quệt” miếng dưa leo xắt.

Nói đến mắm thì phải nói tới Châu Đốc (An Giang). Gọi Nam bộ là “vương quốc” mắm là chưa đúng, phải nói Châu Đốc là “vương quốc” của thức ăn để lâu ngày này mới chính xác. Cứ vào giữa tháng 10 đến tháng 11 Âm lịch, chấm dứt mùa nước nổi, bà con địa phương này bắt tay vào mùa mắm mới. Với ngư cụ truyền thống, họ đánh bắt các loại cá: sặc, rô, lóc, chốt, trèn… nhưng nhiều nhất là cá linh. Ngoài bán ngay ra thị trường, số còn lại họ ủ mắm. Ủ với thính, cho vô khạp với nước muối nấu sôi để nguội, gài kín miệng, 4-5 tháng sau lấy ra, để ráo nước, trộn với đường thốt nốt là đã có mắm ngon. Mắm làm bằng cá gì thì gọi tên loại cá ấy.

Chợ Châu Đốc là nơi bán ê hề nhiều chủng loại mắm, nhưng nổi tiếng nhất là mắm thái. Mắm được làm từ thịt mắm lóc xé thành từng miếng trộn với đu đủ mỏ vịt xắt sợi với kỹ thuật riêng. Mắm thái là món dễ ăn nhất, có thể ăn với bánh mì nóng, xoài sống, sầu đâu hoặc ăn với bún, thịt ba rọi, tép luộc cùng rau sống cuốn bánh tráng chấm nước mắm pha. Loại mắm nổi tiếng này ngày xưa càng nổi tiếng hơn với tên gọi “mắm ruột”, chỉ làm toàn bằng ruột cá lóc. Vì hiếm và rất đắt tiền nên loại mắm này chỉ dành cho giới quý tộc, quan lại... Ở Cà Mau, cũng có loại mắm như vậy, gọi là mắm lòng. Sau chụp đìa, cá lóc làm khô, bỏ đùm ruột. Uổng, người ta dùng bộ đồ lòng này làm mắm. Lựa lòng và đùm trứng cá lóc lớn , rửa sạch, để ráo, ướp muối và thính rồi cho vô gáo dừa, đậy kín, trước khi nhận vô hũ mắm, cài chặt bằng sống lá dừa. Khi ăn, móc gáo mắm khỏi hũ, gắp ruột cá, phần trứng bóp tơi, để vô dĩa. Mắm ăn với rau thơm, bún, thịt ba rọi luộc, chén nước mắm giấm tỏi ớt cùng dĩa bánh tráng cắt đôi phun sương cho dễ cuốn. Loại này nay chỉ dành ăn trong gia đình hoặc biếu tặng người thân.



Từ mắm cá lóc, người ta “biến thể” thành vài món ăn khoái khẩu như mắm chưng. Đầu mắm cho vô tô cùng gia vị, hấp chín chấm dưa leo ăn ngon không tả. Ngon hơn, người ta dùng thịt mắm đánh chung với hột vịt, ba rọi bằm cùng gia vị, chưng cách thủy. Món này ăn với dưa leo, cà chua để tủ lạnh cũng tê mê răng cỏ.

Mắm mặn là lẽ đương nhiên, nhưng với đầu óc tinh nhạy và kỹ năng ăn uống “cấp cao”, người dân ở đây đã sáng tạo loại mắm chua, ít phổ biến. Để làm mắm chua, thường dùng 1 ký cá sặt hoặc cá chốt, làm sạch, ngâm trong thau nước vo gạo. Khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, vớt ra rổ, để ráo khoảng 4 tiếng đồng hồ ở nơi có nắng. Sau đó đem trộn với khoảng 10 phần trăm muối cùng một ít riềng giã nhỏ, một chén thính, một ly rượu ngon, một viên men xiêm (loại men tán mịn). Mắm chua có mùi rất thơm, màu hơi xanh (không đỏ như mắm đồng), còn nguyên dạng con cá nhưng toàn bộ xương đã mềm. Mắm chua ăn kèm với vài trái bần hoặc vài trái ổi, thậm chí vài trái khế, vài trái chuốt chát, vài trái me xanh cũng được. Để tăng thêm hương vị và cho “dễ ăn”, nên có một nắm ớt hiểm xanh cùng một chai rượu đế để “hâm nóng” câu chuyện giữa bạn bè trong mâm. Gắp một con mắm chua cho vào miệng, cắn trái ớt hiểm và miếng ổi, nhai nghe vị mặn chua hòa trên mặt lưỡi. Rót ly rượu đế sủi tăm, đưa lên mội làm “cái trót” thì thật là ấm lòng.

Mắm nêm, mắm tép, mắm cá linh, mắm cá chốt, mắm sặt cũng đều là những thực phẩm để ăn lâu ngày của người dân vùng sông nước. Ngoài ăn sống, mắm sặt, cá linh còn được người ta dùng để nấu canh, xưa gọi là mắm kho , nay là lẩu mắm - một cuộc cách tân trong mỹ vị pháp của con người. Lẩu mắm lúc nào cũng nóng, làm cho thực phẩm đã pha chế luôn dậy mùi thơm của gia vị. Lẩu mắm là một sự ê hề những thực phẩm được phối hợp từ những con vật sống trên bờ (heo), dưới nước (ốc, lươn, tép, các loại cá: ba sa, ngát, bông lau...), và cả biển khơi (mực). Nhưng, ăn thuần những món này dù ngon cũng chỉ mới ngon một nửa. Cho nên lẩu mắm đòi hỏi cần phải có sự đa dạng của những “ngọn cỏ cọng rau” quê hương. Một dĩa rau đầy vun những càng cua, rau dừa, rau nhút, cải xanh, hẹ, rau đắng, cù nèo, rau mát, đọt chiết, khổ qua... làm bật nổi cái màu trắng đục sữa của những cọng giá mập mạp, cái màu trắng mịn màng của những cánh bông so đũa “khép nép” nằm ở một góc và “tràn” lên trên hết là cái màu vàng ngọt mắt như nắng phương Nam của những bông bí rợ, bông điên điển. Một tổng hợp rau phong phú được cho vào nồi mắm sôi ùng ục, liệu chừng hơi heo héo thì gắp ra, nhai... Lắng nghe cái ngọt của rau này hòa lẫn vị đắng của rau kia, lại điểm xuyết thêm cái cay nồng mà thơm của anh chàng ớt hiểm xanh sẽ khiến bạn ăn mê mệt. Vừa hít hà vừa đổ mồ hôi. Vâng, ăn lẩu mắm mà không đổ mồ hôi là... chưa “phê”. Bởi, nó là một món ăn giải nhiệt đại tài.

Ngoài “mắm nội”, người dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn dùng “mắm ngoại” - mắm prò-hóc của đồng bào Khmer Nam bộ. Loại mắm này đã làm nên danh tiếng món bún nước lèo Trà Vinh, Châu Đốc, Sóc Trăng, Cà Mau – dù mỗi địa phương cách nấu nướng mỗi nơi một kiểu. Không như Sóc Trăng và Cà Mau, Trà Vinh thì nấu nước lèo với prò-hóc làm từ mắm biển. Bún nước lèo Trà Vinh chính cống không ăn với thịt heo quay, tôm, bánh cống như hai địa phương bạn. Nhìn tô bún chỉ thấy toàn rau ghém và bún, vì thịt cá lóc đã đâm nát quậy nấu chung với nước lèo. Coi đơn điệu vậy mà ngon. Cũng với mắm prò-hóc này, dân Cầu Kè (Trà Vinh) còn có món canh sim lo nấu với bình bát (hoặc lá, nhất là bông ưng-à-co - mỏ quạ) với cá lóc, tép, nấm rơm, măng tre. Sim lo còn được nấu với bầu, rau đắng đất (hoặc rau đắng đồng). Món này ăn nóng với cơm nóng hoặc bún sẽ là một món mặn mà, khoái khẩu, khó quên…

Chưa hết, người ta còn dùng dưa gang, củ cải trắng, dưa leo nhận trong hũ mắm để có thức ăn vừa giòn vừa thơm đậm mùi đồng quê dân dã, gọi là dưa mắm. Dưa mắm làm bằng củ cải trắng, dưa leo thì ăn suông, còn dưa mắm làm bằng dưa gang ngoài ăn suông người ta còn ăn chung với thịt ba rọi xào cùng gừng xắt sợi. Các món ăn này khiến bữa cơm gia đình “hao” thấy rõ!

Câu chuyện vế mắm Nam bộ còn dài, xin mượn câu nói xưa để tạm kết luận bài viết này: “Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách trái tim mình khỏi quê hương được!” thành: “Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách mùi mắm khỏi tâm thức mình được!”./.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2008

Dó bầu Bảy Núi “thơm” mùi trầm

Mấy năm trước, nghe trên núi Dài (Tri Tôn, An Giang) có người trồng dó bầu, tôi không tin. Vậy mà có thật. Và bây giờ cây dó bầu đang đóng trầm. Ông Lê Hoàng Nhi, một chủ trồng dó bầu sắp khai thác trầm đợt đầu tiên, than: “Trầm tôi chưa tới tuổi lấy, đã bị cưa trộm mất hết 36 cây!”


Cây dó bầu Bảy Núi

Cây dó bầu còn gọi là cây tóc, tên khoa học là Aquilaria sp. Dó bầu có mặt trong rừng núi khu vực miền Trung nước ta, nhiều nhất là ở Quảng Nam. Tại đây, dó bầu từ cây rừng đã trở thành “cây vườn” từ nhiều năm nay và đã làm giàu, tạo nên cơ ngơi vững chắc cho nhiều người dân địa phương. Chưa được như vậy, nhưng cây dó bầu Bảy Núi cũng đang hé mở một tương lai xán lạn cho những người bỏ công trồng nó. Trên núi Cấm (Tịnh Biên, An Giang) có người trồng dó bầu nhưng không nhiều bằng trên núi Dài.

* “Vua” dó bầu

Ông Hai Nghị, nhà ngang Trường Trung học cơ sở Ba Chúc (Tri Tôn), khi nghe chúng tôi hỏi ông Lê Hoàng Nhi đã nhanh nhẹn lấy xe gắn máy dẫn đường tới chợ thị trấn Ba Chúc, ghé nhà ông ấy. Ông Trần Văn Cà, “lái bãi” tầm vông ở ấp An Bình, xã Ba Chúc, khi nghe nhắc tới ông Nhi, cũng mau miệng cho biết đó là một “đại gia” về cây dó bầu. Ông Cà nói, ai thì ông không biết chứ tay Nhi mở miệng hỏi tiền cả trăm triệu thì ai có điều kiện cũng nhanh nhẹn “móc bóp” đưa liền.

Từ thị trấn Ba Chúc, chúng tôi theo chân ông Lê Hoàng Nhi chật vật băng rừng vượt núi Dài (cao 554m, chu vi 21.625m, tọa lạc trên địa phận 4 xã: Ba Chúc, Lê Trì, Lương Phi và Châu Lăng, cùng thuộc huyện Tri Tôn) trong cái nắng chín mười giờ trưa mà người địa phương còn sợ, chỉ để tận mắt nhìn cây dó bầu. Phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”, mất gần hai tiếng đồng hồ, chúng tôi mới tới Vồ Cờ trên đỉnh ngọn núi này. Thật là sung sướng, xóa tan bao mệt nhọc, trước mắt chúng tôi, hàng hà sa số cây dó bầu trồng xen trong các loại cây rừng, cây ăn trái. Thích thú, chúng tôi đua nhau đưa tay sờ, móc từng vết thương trên thân cây dó bầu với hy vọng tìm được một chút trầm hương “lấy hên”. Ông Nhi cười nói: “Để tui”. Rồi ông khượi từng mảng mối xông trên thân cây. Thật bất ngờ, ông gỡ lấy một miếng gỗ xấu xí đưa cho chúng tôi, bảo: “Trầm đây!” và đưa tận mũi chúng tôi miếng trầm vụn nhỏ xíu ấy.

Ông Lê Hoàng Nhi và nhà thơ Trần Thế Vinh với trầm” đầu mùa”

Ngồi trên gộp đá khá phẳng phiu, ông Nhi tâm sự: Cây dó bầu thiên nhiên có mặt trên núi Cấm nhiều nhất. Trước kia, người ta trồng xoài, mít, về sau thấy cây dó bầu có tương lai sáng sủa nên ươm hột, trồng xen vô. Dó bầu có mặt trên núi Dài tuy ít nhưng được trồng nhiều nhất. Người khởi xướng phong trào này là ông Henri (người Hà Lan) chủ nhiệm tổ chức phi chính phủ Rừng mưa nhiệt đới đã trồng thử nghiệm cây dó bầu trên núi Dài với diện tích khoảng 10ha, vào năm 1996. Hai năm sau công trình này bị bỏ dở, Sở Khoa học – Công nghệ An Giang giao nó cho những người có điều kiện tiếp tục phát huy. Ông Nhi là một trong số những người đó. Ban đầu ông trồng thử nghiệm một ít rồi lặn lội tới Quảng Nam học cách ươm cây giống và cách tạo trầm. Ông làm được cây giống, còn tạo trầm thì chưa ai chịu chỉ bí quyết. Dù vậy, lần hồi, cho tới nay, ông là người trồng dó bầu nhiều nhất của cả vùng Bảy Núi, có tới 2.000 cây trên diện tích 7ha trên núi Dài. Trong khi đó, 48 hộ còn lại chỉ trồng 1.000 cây dó bầu trên ngọn núi Dài. Ông Nhi thổ lộ một chút bí quyết: Dó bầu là loại cây rất thích bóng râm, nên trồng xen nó trong những tán xoài, mít vô cùng thích hợp. Khi mới trồng dó bầu, phải chịu khó làm cỏ phòng chống cháy rừng và bón phân chuồng cho cây mau lớn. Đặc biệt, trồng dó bầu rất khỏe vì không cần tưới tắm gì cả.

* “Ngậm ngãi tìm trầm”

Xế chiều, xuống núi, về nhà, ông Nhi vào buồng lấy ra hai khúc cây “mục”, đưa chúng tôi xem. Ông bẻ một miếng dăm, đốt, mùi thơm sảng khoái phả vào khứu giác. Ông hãnh diện khoe trầm Bảy Núi thơm thanh chứ không thơm khét như trầm Quảng Nam. Ông Nhi cho biết, hiện ông đang có 3ha cây cho “trầm chiếng” trong số 7ha trồng. Diện tích cây còn lại, muốn khai thác tốt phải chờ một năm nữa. Để có được thành quả này, ông Nhi đã phải khổ công rất nhiều, ngoài việc đích thân ra Quảng Nam học hỏi kinh nghiệm tạo trầm nhưng không đạt kết quả. Không chịu bó tay, ông tìm công ty có uy tín tạo trầm cho cây dó. Ông đã trải qua các công ty của Thái Lan, Singapore, các công ty trong nước như: Tinh Đất Việt, Phong Sang, Tường Yên. Mỗi công ty, ông cho thử nghiệm một ít, nhưng hóa chất họ cấy vào cây dó bầu không mang hiệu quả mong muốn. Cuối cùng ông trụ lại với công ty Phương Long (TP.HCM).

Quá trình tạo trầm cũng giống như tạo ngọc trai nhân tạo, tức là tạo vết thương để cây ứa nhựa bao phủ lấy vết thương, lâu ngày thành trầm. Để tạo trầm, Công ty Phương Long cử hai người thợ đến. Một người đục lỗ trên thân cây, cách nhau 1 tấc rưỡi, khắp cả thân cây dó 7 năm tuổi (thân cây bằng bắp vế), từ ngọn tới gốc. Một người bơm hóa chất vào lỗ đục. (Hóa chất không biết là thứ gì mà các hộ trồng dó bầu âm thầm ăn cắp đem phân chất chẳng có kết quả). Cấy hóa chất vào cây khoảng 6 tháng là có trầm, nhưng phải đến 24 tháng sau mới khai thác tốt. Năm 2007, ông Nhi đã cho cấy 547 cây dó bầu. Trong năm 2008 này, ông cũng cho cấy số lượng tương đương. Theo tính toán, bình quân, cứ 1 cây dó bầu cấy hóa chất, ông thu được 3kg trầm. Hiện nay, trầm thô (loại 6) có giá 800.000 đồng/kg. Còn loại 1 (trên 24 tháng) thì công ty chưa cho giá. Thế nhưng, vì ham lợi, một số người đã khai thác trầm “non”. Non vì cây chưa đủ tuổi (mới 3 năm) đã cấy, và trầm chưa đủ tuổi (mới 12 tháng) đã khai thác.

Ông Nhi lại vào buồng, mang ra lỉnh kỉnh nào hộp tròn, hộp dài khác nhau giới thiệu với chúng tôi sản phẩm trầm của Công ty Phương Long. Ông cười nói, cây dó bầu khi khai thác chỉ bỏ lá. Còn lại, thân cây, sau khi ép lấy tinh dầu, bã trộn với nhánh nhóc xay nhuyễn làm nhang. Nhang trầm có bốn loại: nhang dài 2 tấc và 4 tấc đựng trong hộp giấy hình chữ nhật với tên gọi “Nhang trầm Việt Nam”; nhang hình chóp và nhang khoanh đựng trong hộp giấy hình trụ, với nhãn hiệu “Lộc Phát”. Giá bán thì ông Nhi không được công ty cho biết. Sản phẩm của Phương Long xuất sang Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc. Công Ty Phương Long hiện đang ký hợp đồng với 4 hộ trồng dó bầu ở núi Dài, mà anh em ông Nhi đã chiếm hết 3, ăn chia theo tỷ lệ 5/5.

Trong khi chờ đợi “đếm tiền tỉ”, ông Nhi “lượm bạc cắc” từ việc ươm cây dó bầu. Dó bầu giống ông Nhi khai thác từ hột của 4 cây dó bầu thiên nhiên có trên đất nhà mình, nhân ra. Cây lớn lên, cho hột, ông lại ươm trong bầu, đưa ra thị trường. Năm 2000, ông bán hột và bầu (2.500 đồng/bầu - nay còn 1.500 đồng/bầu) cho Quảng Nam, Tây Ninh, Lâm Đồng. Hiện tại ông có 1 công đất sau nhà ươm cây dó bầu. Xung quanh thị trấn Tri Tôn có khoảng 5-6 cơ sở sản xuất cây dó bầu, bán khắp nơi, tới tận Campuchia.

* Hướng nông dân làm giàu?

Ông Trần Văn Cà tiết lộ ông Nhi bán hột dó bầu với hợp đồng 100kg/lần. Giá 1.500.000 đồng/kg. Vui miệng, ông Cà “bật mí”: “Cái thứ cây dó bầu này biết thì dễ trồng lắm. Có gì đâu chỉ cần trồng xen với chuối là bảo đảm sống gần 100%. Bởi, chuối vừa có bóng mát vừa giữ nước giúp cây mau phát triển, khỏi phải tưới. Đó là bí mật tay Nhi tiết lộ với tui vì tui là cậu ruột của ông ta”.

Nhưng cây dó bầu đâu chỉ trồng trên núi, mà còn trồng được cả ở chân núi. Chiều ấy, ông Nhi đưa chúng tôi tới nhà ông Lê Văn Lúa ở khóm Thanh Lương, thị trấn Ba Chúc. Sau nhà ông Lúa là “vườn” dó bầu 50 cây chi chít vết cấy trồng xen với mít, xoài. Ông Lúa sung sướng với viễn cảnh giàu sang sắp tới của mình, mời chúng tôi ở lại ăn bữa cơm “đạm bạc”…

Như thế, với điều kiện thổ nhưỡng của vùng Bảy Núi, cũng như ở Quảng Nam, cây dó bầu chắc chắn sẽ phát triển tốt. Ông Nhi phân tích: “Lâm nghiệp mà không có cây công nghiệp thì không phát triển. Trong khi trồng cây keo, bán chỉ có 10.000 đồng/cây, còn trồng dó bầu bán trên 500.000 đồng/cây. Cả hai loại cây này đều có giá trị môi trường rừng như nhau, nhưng giá trị kinh tế thì một trời một vực. Tuy nhiên phải có kinh tế vững mới phát triển cây công nghiệp dó bầu được”.

Sản phẩm trầm của Công ty Phương Long

Nhưng, theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy, cán bộ Chi cục Kiểm lâm An Giang, thì “việc định hướng phát triển cho loài cây dó bầu trên cả nước đang rất cần những chính sách hỗ trợ và thống nhất quản lý một cách bền vững. Theo thống kê Hội Trầm hương Việt Nam, cả nước có gần chục ngàn ha trải dài trên 23 tỉnh. Diện tích tăng dần hằng năm như “phong trào” tự phát và chưa được định hướng. Để tránh tình trạng trồng ồ ạt sau 5-7 năm, chặt cũng ồ ạt như lịch sử cây điều, cây mía, cà phê, tràm hay quế... việc phát triển của dó bầu rất cần có giải pháp về chính sách khuyến khích đầu tư theo kế hoạch dài hạn và những nghiên cứu dự báo về quan hệ cung cầu của thị trường trong và ngoài nước. Hiện nay, người dân nghèo vùng đồi núi An Giang chỉ mới được đầu tư khoảng 2% diện tích trồng rừng hằng năm của Chương trình Quốc gia (661). Do đó, chủ yếu phong trào trồng dó bầu chỉ do dân tự đầu tư là chính, thiếu kế hoạch hỗ trợ lâu dài của Nhà nước. Ngoài ra, vấn đề cốt lõi là thị trường tiêu thụ cũng chưa được thông tin và nghiên cứu đầy đủ một cách có hệ thống từ trong và ngoài nước.

Về quản lý, Nhà nước cần sử dụng những công cụ quản lý hành chính phù hợp nhằm bảo vệ được quyền lợi chính đáng của cả người trồng rừng và những doanh nghiệp thực sự có công nghệ tạo trầm hiệu quả. Chẳng hạn, từng doanh nghiệp trước khi được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực tạo trầm phải được công nhận quyền sử dụng hoặc sở hữu một dây chuyền, công nghệ tạo trầm được cấp có thẩm quyền phê duyệt”.