Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

Gió chướng thơm mùi tôm càng nướng



Tôm kho tàu đỏ màu gạch son ngon mắt

Những năm 1950, tôm càng không là “đặc sản”. Chúng có mặt rất nhiều trên các nhánh sông khu vực ĐBSCL, cả các ao đìa… Vì vậy tôm càng được người dân địa phương (kể cả người nghèo) chế biến thành nhiều món ăn ngon trong gia đình. Lúc bấy giờ ngoài kho tàu, kho rim, người ta còn dùng tôm càng làm nguyên liệu chính để nấu canh chua bông so đũa. Mùa gió chướng (thời gian trước và sau Tết Nguyên đán) là mùa bông so đũa trắng nở rộ. Canh chua tôm càng bông so đũa là món ngon ai từng thưởng thức cũng đều tắm tắc khen. Vì giá rẻ nên tôm càng còn được người dân nơi đây làm chính phẩm cho món “ăn chơi”: bánh mặn. Tôm càng lột bỏ vỏ băm nhỏ trộn gia vị xào sơ, rải lên mặt bột gạo được đổ hấp chín thành nhiều lớp, hấp chín lần cuối. Khi ăn, xắt từng miếng hình thoi, rải dưa chua, chan nước cốt dừa cùng nước mắm pha là món lót lòng buổi sáng nhiều hấp dẫn. Món nầy trẻ con rất thích, nhưng chúng thích nhất được ăn mấy cái càng tôm nướng thơm mùi củi lửa…

Anh bạn văn nghệ kể thời bao cấp nhà văn Sơn Nam xuống một huyện ở An Giang về khoe với nhà văn Mai Văn Tạo được đãi một bụng no nê những món ăn từ tôm càng. Nhà văn Mai Văn Tạo hóm hỉnh nói: “Ông làm như mới đi nước ngoài về”. Thời báo cấp, mình tôm càng là đặc sản xuất khẩu. Người trong nước chỉ được thưởng thức cái đầu tôm. Ca dao có câu: “Đầu tôm nấu với ruột bầu/Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”. Theo nhiều người, đầu tôm là bộ phận ngon nhất của con tôm. Ngon vì nó giòn mềm, rồi vị béo ngọt tiết ra hậu bùi, lâng lâng khoái cảm. Té rá cái món người ngoại quốc chê lại là món ngon số một của con tôm mà dân trong nước được hưởng. 

Càng về sau nầy, tôm càng càng được người nông dân nuôi dưới chân ruộng, mở ống bọng đầu các mương vườn để tôm con từ sông vào trú ngụ. Những con tôm nầy lớn lên theo năm tháng, mình đóng rong rêu. Vì được nuôi trong môi trường không bình thường nên tôm không ngon thịt. Chỉ có những con tôm sống giữa khoảng đạt sông nước  bao la mới là những con tôm cho chất lượng ngon nhất. Tôm càng có mặt hầu như quanh năm, nhưng rộ nhất vào mùa gió chướng, đặc biệt là theo con nước rong (đầu hoặc giữa tháng ậm lịch). Tôm sông được ngư dân đánh bắt bằng các phương tiện: câu, chài, chất chà, cào... Để phân biệt tôm sông và tôm nuôi người ta chú ý đến đặc điểm: tôm nuôi trắng tươi và lớn đều như nhau, trong khi đó tôm sông trắng xanh cùng một kích cỡ.  


Tôm nướng ăn sướng cái thần hồn

Người ta nói ăn món gì có thể giấu lối xóm được nhưng thưởng thức tôm càng nướng thì không. Vì cái mùi tôm chin trêtn bếp than hồng lan tỏa khắp xung quanh, “thơm” tới “nứt mũi”. Tôm càng nướng ăn với rau sống đã ngon, nhưng khi kết hợp với bún thành món ngon trứ tuyệt. Tôm kho tàu hoặc kho mẳn là những món ngon nhớ đời. Có vài cách làm món tôm kho tàu. Trong đó có cách lặt đầu tôm, lấy gạch để trong chén ướp tiêu, bột ngọt, bột nêm, mỡ, trộn đều, sên trên bếp lửa nhỏ đến khi sánh. Tôm lột bỏ vỏ, chừa đuôi cho đẹp, rửa sạch, để ráo. Cứ một phần muối hột dùng ba phần đường cát trắng cho vô nồi, xóc đều, để chừng ba bốn tiếng, mình tôm thấm gia vị, săn trong. Cho nồi lên bếp lửa than lớn. Khi những chiếc bong bóng phập phù trong nồi, để lửa liu riu tới lúc không còn chiếc bong bóng nào là lúc nước đã rút hết vào mình tôm, tôm chín, nhưng chưa kỹ. Gạt than khỏi bếp, khi tôm ửng đỏ, chế chén gạch tôm vào, xóc cho tôm thấm đều gạch và gia vị, để trên bếp lửa một lát rồì dọn ra bàn. Tôm kho tàu vàng ươm ăn nóng cùng với sà lách, rau thơm, dưa leo và cà chua xắt lát. Món nầy ngon ngoài mùi vị đặc trưng của tôm, vị tiêu cay, còn nhờ mùi than củi tỏa thấm mình tôm. Ngon không thể tả là khi ăn tôm kho tàu với cơm gạo lúa mới dẻo thơm. 

Tôm kho mẳn thì lột bỏ vỏ tôm, ướp gia vị rồi cho vào nồi nước cùng một ít muối hột, bắc trên bếp lửa riu riu. Nước cạn, xăm xắp, tôm chín. Nước tôm kho lợn cợn những váng gạch hồng lợt, chan cơm ăn đã ngon, nhưng chấm đậu rồng non mới khoái khẩu. Đậu rồng non nổ giòn trong răng, chan chát mùi đất đai cùng vị mặn thơm của gia vị, của thịt tôm hòa quyện khẩu cái. Đậu rồng non có mặt khi gió bấc hiu hiu ngọn. Cái ngọn gió chướng sảng khoái càng khiến món tôm kho tàu hoặc kho mẳn ăn với cơm gạo lúa mới nóng hổi càng thêm hao cơm. 

Từ nhiều năm nay, tôm càng được các nhà hàng chế biến thành nhiều món nhậu hấp dẫn. Trong đóp dáng chú ý là tôm hấp bia, tôm lăn bột chiên, tôm xốt me, tôm xốt nước tương… 

Theo thị trường, giá tôm sông lúc nào cũng cao hơn tôm nuôi, dao động theo từng địa phương. Tôm sông “chánh hẩu” khoảng 240.000đ/kg, tùy theo con nước. Hôm qua, 19-2-2016, tại chợ chồm hổm bến phà qua Xóm Chài, tôm sống bơi trong thau nhôm được rao với giá “bèo”: 200.000đ/kg.

--------------


Hành hương núi Cấm



Du xuân núi Cấm (Am Hảo, Tịnh Biên, An Giang) trong những ngày Tết Nguyên đán không gì thú vị bằng khám phá “nóc nhà đồng bằng” với du khách miệt vườn bằng phương tiện cáp treo


Các cabin đưa khách lên núi Cấm

Đây là tuyến cáp treo đầu tiên của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì vậy mà trong ngày đầu khai trương vào dịp lễ Tình nhân (14-2-2015), rất gần Tết Nguyên đán Ất Mùi (2015), tuyến cáp nầy đã thu hút rất nhiều du khách của vùng sông nước Tiền Giang và Hậu Giang.

Ngồi trong cabin tuyến cáp treo dài 3,5km, khách sẽ lãng đãng thả hồn nhìn ngắm phong cảnh hữu tình của “đệ nhất danh thắng Thất Sơn” đang từ từ lướt qua cặp mắt mê đắm của mình. Những rừng rậm xanh mượt màu cây cổ thụ lưu niên, những bông hoa hoa đỏ rực lấm tấm, điểm xuyết màu tím hoa cà cùng khoe sắc… như đưa khách vào một khung cảnh thần tiên của một môi trường sinh thái bền vững. Chỉ với 8 phút từ ga đi, khách đã đặt chân lên nền ga đến – cũng là nhà ga vừa mang phong cách tân kỳ vừa ươm màu cổ điển Việt Nam. Với những lối di khi tráng xi măng với những bậc cấp xen đá xanh to, với những con đường nhỏ men theo sườn dốc thoai thoải màu đất đỏ, sạch sẽ và nên thơ với những bồn hoa dài ôm dọc lối…

Từ ga đến, vồ Ông Bướm, thả bộ theo triền dốc chẳng mấy bước, khách sẽ thấy trước mắt mình một “tấm gương khổng lồ” đang soi tỏ những giề mây xám thong dong trôi trên mặt nước hồ Thủy Liêm. Mặt hồ rộng khoảng 10ha, xanh biếc, với hai chiếc cầu hình bán nguyệt màu son như con rồng uốn lượn giữa cao xanh. Từ trên cầu, khách thả xuống mặt nước những vụn bánh mì, những hột bắp rang… sẽ thấy đàn cá màu vàng, màu đỏ lớn xộn vẩy đuôi tranh nhau ăn mồi khiến mặt nước xao động một cách đáng yêu. 

Các cabin từ từ “trôi” qua hồ Thanh Long

Bên kia bờ hồ Thủy Liêm, trên mặt nước, khách thấy bóng tượng Phật Di Lặc lồng lộng soi đáy nước. Trên triền cao bờ hồ, nơi đó, đằng sau “rừng” sao đang độ lớn là bức tượng Phật Di Lặc nở nụ cười từ bi xuống tất cả chúng sinh. Tượng Phật Di Lặc cao 33,60m, tọa lạc trên diện tích 2ha. Đây là công trình nghệ thuật, kiến trúc tôn giáo đồ sộ nhất từ trước tới nay trên vùng Bảy Núi. Điều thú vị nhất là khi đứng ở bất cứ vồ nào trên núi cũng đều nhìn thấy tượng phật trắng sáng. Ngày 2-3-2013, Tổ chức Kỷ lục châu Á công nhận tượng phật nầy là “Tượng Phật Di Lặc trên đỉnh núi lớn nhất châu Á”.

Đến đỉnh núi Cấm là hành hương chùa Phật Lớn, được xây dựng hoành tráng, vừa mang tính hiện đại nhưng vẫn giữ vẻ cổ kính Á Đông truyền thống. Trước chùa có tượng Phật Quan Âm với trang phục thuần khiết trắng tinh khôi, tay cầm bầu nước cam lồ rải xuống nhân thế… Gần đó là đài Xá Lợi xây dựng đơn giản nhưng đậm đà thiền vị. Ngày 14-10-2915, tại chánh điện chùa Phật Lớn, đã long trọng tổ chức “Đại lễ cung nghinh an vị Ngọc xá lợi phật”. Ngọc Xá lợi phật đã được chuyên cơ đưa từ Ấn Độ về Việt Nam ngày 13-10-2015… 

Đối diện chùa Phật Lớn, bên kia hồ Thủy Liêm là chùa Vạn Linh. Trước đây, chùa Vạn Linh đã to đẹp nhưng nay càng to đẹp hơn sau khi được tôn tạo. Nổi bật nhất của chùa là tháp Cửu Trùng cao vời vợi như đua cao cùng đỉnh núi. Cũng như chùa Phật Lớn, chùa Vạn Liuh lúc nào cũng ngan ngát khói hương cùng hàng bao nhiêu phật tử, khách tham quan tới lui trong thành kính. Khiến khung cảnh vốn trang nghiêm của phật đài càng đậm nét tôn nghiêm,.thành kính…

Tham quan núi Cấm, khách cò dịp khám phá “năm non bảy núi”. Non ở đây là vồ (chỉ chỏm cao trên núi). Học giả Nguyễn Văn Hầu cho biết “năm non” gồm: Vồ Bồ Hong, cao nhất, 705m, thờ Ngọc Hoàng Thượng đế. Vồ Đầu, đỉnh cao đầu tiên của núi Cấm tính từ phía Bắc, 584m. Vồ Bà, 579m, có điện thờ Bà Chúa xứ. Vồ Ông Bướm (hay Ông Voi), 480m, tương truyền xưa kia có hai người Khmer lưu lạc tên Ông Bướm và Ông Voi đến cư trú. Vồ Thiên Tuế, 541m, trước kia là rừng cây thiên tuế. Thực ra núi Cấm còn có nhiều vồ nữa, nhưng người ta thường nói “năm non, bảy núi” có thể do sự tác động của những quan niệm thần bí, siêu nhiên trong dân gian.   

Núi Cấm còn có Cao Đài Tự, là một thánh thất cổ với nhiều điều hấp dẫn khách du lịch. Khách còn tham quan vườn cây ăn trái, vườn hoa Đà Lạt, rẫy rau cải mơn mởn suốt bốn mùa trên những con đồi trên núi… Để núi Cấm thêm sắc xanh của nước biếc, sẽ có một hồ lớn là hồ Thanh Long. Hồ là một thung lũng rộng 30,6ha, gấp 3 lần hồ Thủy Liêm. Bờ kè và đường lót đá xanh quanh hồ đã hoàn chỉnh. Hồ tích nước từ các mạch nước ngầm đổ qua các khe đá. Hồ cung cấp nước sinh hoạt cho dân núi, điều tiết khí hậu, giúp khu vực lúc nào cũng lãng đãng sương mù. Sắp tới, khi hoàn thiện, mặt và bờ hồ là nơi du khách tiêu khiển với nhiều hình thức, chắc chắn sẽ khiến khách một lần đến sẽ trở lại trong nay mai…Khi tích đầy nước, nước từ hồ theo đập tràn đổ xuống suối Thanh Long khiến thắng cảnh này vốn đẹp càng thêm quyến rũ, bốn mùa lúc nào cũng ầm ào dòng nước cuộn, là nơi tắm mát của khách theo đường bộ lên núi.

Trong tương lại, núi Cấm sẽ được đầu tư 6 dự án mới: khu biệt thự sinh thái, khu hội nghị, khu nghỉ dưỡng, khu trung tâm điều hành, khu dịch vụ hành hương 3, với tổng diện tích trên 70ha. Riêng khu nghỉ dưỡng được xây trên diện tích 8,4ha, kết hợp khu hội nghị (21ha), được thiết kế xây dựng dạng resort, tạo thành quần thể công trình cao cấp, mang đậm bản sắc dân tộc. Song song đó, khu du lịch hành hương 1 (4ha) bố trí cạnh đường lên chùa Phật Lớn, chùa Vạn Linh, động Thủy Liêm sẽ tổ chức lại các điểm bán những mặt hàng truyền thống phục vụ tuyến đường đi bộ… Tất cả sẽ làm thay đổi diện mạo núi Cấm theo hướng tích cực…

Nhà ga đi rộn rịp khách du lịch

Dạo bước du xuân núi Cấm xong, khách ngồi trong cabin xuống núi. Lại là dịp khách có thể ngắm toàn cảnh thiên nhiên hoang sơ ngay dưới chân mình, như một bức tranh hoàn mỹ và có những trải nghiệm thú vị khi “bay” qua những cánh rừng nguyên sinh hùng vĩ, những dòng suối uốn quanh giữa bạt ngàn xanh cây rừng, nhất là lướt trong những đám mây bàng bạc loanh quanh sườn núi… Xa hơm khách có dịp thỏa mãn thị giác với một phong cảnh hoàn hảo của bảy ngọn núi nổi tiếng không chỉ An Giang, mà khắp cả nước: “Thất Sơn huyền bí”, với Ngọa Long sơn, Ngũ Hồ sơn, Phụng Hoàng sơn, Anh Vũ sơn, Liên Hoa sơn, Thủy Đài sơn, Thiên Cẩm Sơn (núi Cấm), và có thể cả hơn 30 ngọn núi huyền thoại khác của nảnh đất An Giang độc đáo nầy.

--------------------



Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Thanh trà vàng cam màu nắng phương Nam


Thanh trà vàng cam màu nắng phương Nam

Năm nào cũng vậy, cứ sau Tết Nguyên đán, dài theo hai bên đường dẫn lên cầu Cần Thơ (phía TX Bình Minh, Vĩnh Long) là khách qua đường thấy lạ. Họ vui mắt với những chùm trái thanh trà vàng cam màu nắng treo lủng lẳng dưới những tán dù, đung đưa trong cơn gió chướng phần phật thổi. Và màu vàng gợi cảm của những chùm trái cây nhiệt đới nầy hình như giúp họ dịu đi cơn khát trong ánh nắng rực rỡ của những ngày gay gắt nắng.

Càng vào sâu mùa trái thanh trà (khoảng đầu tháng 3 âm lịch), người ta treo bán trái cây đặc sản của TX Bình Minh dài theo quốc lộ 54, từ ấp Phù Ly (TX Bình Minh) đến khỏi thị trấn Trà Ôn (Trà Ôn, Vĩnh Long), qua cả TP Cần Thơ. Sáng cũng như chiều tối, hai bên đường lúc nào cũng lủng lẳng những chùm trái thanh trà mời gọi, “hút hồn” khách qua đường. Tuy nhiên bán đậm đặc nhất vẫn là khu vực xã Đông Bình, nhất là xã Đông Thành. Đông Thành có 40 ha đất nông nghiệp, mà diện tích trồng thanh trà chiếm đến phân nửa, từ ấp Đông Hưng đến ấp Đông Hòa và Mỹ Hòa, nhưng nhiều nhất là ấp Đông Hưng 2. Có dịp ngang qua đây, tưởng cũng nên vào thăm những khu vườn thanh trà um tùm dọc theo bờ sông Hậu. Tuy nắng gay gắt nhưng vào đây, người ta được hưởng bầu khộng khí dịu mát. Trước mắt là những tàng cây xanh đậm, chi chit những trái thanh trà vàng cam treo lủng lẳng gọi mời. Bạn sẽ được chủ vườn mời thưởng thức ly nước thanh trà giải khát và nghe họ kể nguồn gốc loại cây đặc sản địa phương nầy. Theo đó, ngày xưa, nhà ông cả có mấy cây thanh trà chua. Người quen thấy cây lạ, có trái đẹp, xin giống về trồng. Mấy năm sau cây ra trái, thương lái Sài Gòn đi ngang thấy trái màu đẹp mắt, hỏi mua. Rồi từ đó loại trái cây nầy trở thành sản phẩm ngày càng phát triển, bán cả Sài Gòn...


Theo Dược sĩ Phan Đức Bình (Tạp chí Thuốc & Sức khỏe, số 331, ngày 1-5-2007) thanh trà là cây mọc hoang, người xưa gọi xoài hoang dại (Wild Mango), tên khoa học Bouea Oppositifolia (Roxb.) Meissn., tên cũ Mangifera Oppositifolia Roxb, cùng họ Anacardiaceae với cây xoài. Vì giống trái xoài nhưng lớn cỡ ngón chân cái, nên dân Đông Thành gọi xoài mút (khi ăn phải mút) hay xoài hột (vì hột to).

Từ một loại cây hoang dã, thanh trà đã được thuần chủng thành cây ăn trái hấp dẫn. Trái thanh trà khi ăn phải vò mềm, lột bỏ vỏ, chấm muối ớt. Nếu làm nước giải khát thì vò xong, dằm trong ly với đường cát, dằn chút muối hột, cho nước sôi để nguội vào, quậy đều. Người ta còn dùng  thanh trà làm gia vị trong món ăn. Vị chua thanh của trái hơn hẳn vị chua của các loại cây trái khác, hơn cơm mẻ, hèm…, khiến thịt cá chua có mùi thơm dịu, nhất là nước của nó húp một cái “đã thần hồn”! Người ta còn dùng trái thanh trà làm thành mứt, dành cho khi mùa trái chấm dứt vào cuối tháng ba âm lịch. Theo y lý, thanh trà có tác dụng ngừa và trị các chứng bệnh: cao huyết áp, người có thể trạng suy nhược, người bị bệnh nan y, đặc biệt bệnh ung thư. Được như vậy nhờ thanh trà có chứa nhiều beta carotene, vitamin nhóm B, các hoạt tính chống oxy hóa, acid ascorbic, các acid amin, enzym, bioflavonoids, giàu khoáng chất như crome, kali, magne...

Có xuất xứ từ Phú Quốc nên thanh trà được bán ở ngã ba Rạch Sỏi (Kiên Giang). Đặc biệt, ở Phú Quốc  người ta gọi thanh trà là sơn trà vì nó mọc trên núi cao. Tại hòn đảo ngọc nầy, gốc rễ và cành nhánh sơn trà già được “nghệ nhân” Nguyễn Văn Dũng ở Bãi Thơm chế tác thành những chiếc giá võng. Tùy giá võng lớn hay nhỏ, giá dao động từ 7 triệu đồng đến 16 triệu đồng. Sản phẩm “độc lạ”, “không đụng hàng”, “ác phẩm nghệ thuật” nầy của ông Dũng đều được các “đại gia” đất liền ưa thích. Giá mắc như vậy vì loại cây nầy không bị mối mọt xông. 

Giá võng sơn trà – hàng “độc”


Thanh trà đầu và cuối mùa luôn cao giá. Năm 2015, nhà vườn Đông Bình đúc kết giá 1kg thanh trà bằng giá 10kg lúa. Nhưng năm nay giá đó “rớt hàng”, dao động từ 60.000 đồng/kg đến 70.000 đồng/kg, vì mùa trái “thất”. Thanh trà có hai loại: chua và ngọt. Giá thanh trà ngọt cao hơn thanh trà chua chừng 10.000 đồng/kg đến 15.000 đồng/kg. Giữa mùa, giá thanh trà thấp hơn đầu và cuối mùa.





Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Lên đỉnh Tà Lơn

Tà Lơn tiếng Anh là Elephant Mountains. Đỉnh cao là Phnom Bokor, tức Tà Lơn theo cách gọi của người Việt. Đây là nơi các đạo sĩ nước ta thường lên tu tập, Đáng chú ý là các vị Nguyễn Thành Đa (Cử Đa, đạo hiệu Ngọc Thanh), Huỳnh Phú Sổ (Giáo chủ đạo Hòa Hảo), Ngô Văn Chiêu (Khai sáng một nhánh đạo Cao Đài)…

Con đường từ chân dãy Elephant Mountains lên đến đỉnh Bokor dài 34km, qua những tán cây xanh mướt hai bên đường. Các cây bá tùng thấp nhỏ, gân guốc như một thuật sĩ tu luyện lâu năm với lá của cây bách và cây tùng trên cùng một thân cây. Thấp hơn là địa lan và cây nắp nước cùng những ngọn cỏ lá mảnh và nhọn. Con đường quanh co, uốn lượn qua ba ngọn núi của dãy Elephant Mountains rộng lớn, phẳng lì nên khách thượng sơn chỉ mỗi việc mê mắt ngoạn cảnh.



Du khách và khách hành hương viếng tượng bà Mau trên đỉnh Bokor.


Tà Lơn huyền bí

Tà Lơn (Bokor, Kampot, Campuchia) là đỉnh cao nhất của dãy Elephant Mountains, 1.079m. Nơi đây có vô số khối đá bị nước biển ăn mòn với vỏ sò dính trên đó; cát trắng mịn nên người ta cho rằng hàng triệu năm trước Tà Lơn nằm sâu đáy biển. Một tác động nào đó khiến nó vươn mình lên cao khỏi mặt đất như ngày nay với biết bao huyền bí. Thời xa xưa đó, Tà Lơn được nhà văn Sơn Nam diễn tả trong tác phẩm”Thơ núi Tà Lơn” bằng bài vè mà ông ghi chép, có đoạn như sau: “…Xứ hiểm địa chim kêu vượn hú/Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan/Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn/Nhìn trên suối sấu nằm dư khúc/…/Loại thú cầm trông thấy chỉnh ghê/Giống chằn tinh lai vãng dựa xó hè/Con gấu ngựa tới lui gần xó vách/Bầy chồn cáo đua nhau lúc nhúc/Lũ heo rừng chạy giỡn bát loạn thiên/Trên chót núi nai đi nối gót/Cặp dã nhân kêu tiếng rảnh rang/Ngó sau lưng con kỳ lân mặt đỏ như vàng/Nhìn phía trước ông voi đen huyền như hổ/Hướng đông bắc con công tố hộ/Cõi tây nam gà rừng gáy ó o…”. Thật là một quang cảnh rợn người, duy nhất là nơi một số người Việt đầu thế kỷ 20 chọn làm nơi tu luyện. 


Phong cảnh ngoạn mục nơi chùa Năm Thuyền làm say đắm du khách.
 Với người Campuchia, theo truyền thuyết, Bokor được cai quản bởi một vị nữ thần tên Ya Mao (Veang Kh’mau hay Diay Mao, người Việt gọi bà Mau, dì Mau). Có hai truyền thuyết về Ya Mao: Ya Mao là một phụ nữ ở một làng thuộc khu vực Ream. Chồng bà đi làm ở Koh Kong. Vào một mùa mưa, người phụ nữ đi tìm chồng rồi bị bão chìm thuyền. Bà hiển linh, báo mộng cho dân chúng ở phía nam, bảo vệ ngư dân, dạy bảo mọi người sống tốt đẹp. Đôi khi bà cũng yêu cầu người dân cúng một biểu tượng Linga. Thuyết khác, Ya Mao giận những người đàn ông vì bắt chồng đi xa nên bà bắt đàn ông trong vùng phục vụ. Năm tháng qua đi, nghĩ rằng bà không còn sức nữa nên người ta cúng chuối... Tượng bà Mau trên đỉnh Bokor, do ông Sok Kong cho dựng. Tượng cao 22m trên bệ 15m, trên diện tích khoảng 1.500m2, vào tháng 2-2012, dưới Quốc lộ 3 có thể nhìn thấy trong ngày quang mây. Ngoài việc cúng chuối, người dân cùng dựng tượng linga để thờ. Hiện nay, trước mặt tượng bà Mau trên đỉnh Bokor mịt mù mây khói, về phía trái, gần biệt điện hoang phế của Sihanouk còn có tượng linga rêu phong theo năm tháng.

Khách tham quan casino trong khu phức hợp Thansur Bokor.

Vòng vèo qua những đỉnh núi nhiều trảng trống xe dừng lại bên dưới chùa Năm Thuyền (Wat Sampov Pram), là nơi cũng thu hút rất đông người đến cúng viếng. Chùa Năm Thuyền được xây dựng vào năm 1924 bởi vua Monivong, mang phong cách đặc trưng Khmer với thần Chim Garuda trên các cột chống. Chánh điện có những bức bích họa phật tích tuyệt đẹp có tuổi thọ 90 năm. Đối diện chùa có bốn tảng đá nằm song song, đằng sau có tảng đá khác cùng hướng về một phía. Tất cả giống như năm chiếc thuyền. Vì vậy chùa có tên Năm Thuyền. Theo truyền thuyết, ngày xưa, Hoàng tử Preah Thong vâng lệnh vua cha nhường ngôi cho em. Trong khi du ngoạn, chàng gặp nàng Nagani (Công chúa thủy tề) xinh đẹp. Họ yêu nhau rồi kết thành gia thất. Long vương tặng vợ chồng chàng 5 chiếc thuyền buồm khổng lồ chứa đầy châu báu làm của hồi môn, cùng 500 gia nhân. Họ dong thuyền và xây dựng vương quốc mới và chàng được xem như cha đẻ nền văn minh Khmer. “Thương hải biến vi tang điền”, nước biển rút đi, mặt đất trồi lên cao, 5 chiếc thuyền buồm biến thành đá như hiện trạng. 

Phía sau chùa Năm Thuyền là khu đất cỏ mọc rậm với nền nhà hoang phế. Từ đây, nhìn thẳng là vực biển xanh mờ, ẩn hiện xa xa trong trời mây là đảo Phú Quốc của nước ta. Nhìn sang phải, nơi mỏm đất nhô ra có ngôi chùa Khmer mới xây vàng chóe với tượng Phật cao to in nền trời. Từng đợt, từng đợt mây mù trắng đục từ vực biển trào lên như tấm voan lãng mạn và thơ mộng phất nhẹ qua đời. 


Từ chùa Năm Thuyền theo đường Nắp Ấm hiểm trở với nhiều tảng đá hình thù kỳ quái là đến khu vực đậm chất huyền bí của Tà Lơn đối với người Việt, là nơi có các điện: Tứ Giao, Minh Châu, Trung Tòa, Lan Thiên, Bình Thiên, Bàn Ngự, Hàm Long, Cán Dù…- nơi các vị tổ của Huyền môn, các vị giáo chủ bản địa Việt Nam chọn tu luyện, cũng là nơi các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đến tĩnh tọa, tham thiền.



Công viên quốc gia Bokor

Phong cảnh Bokor hoang vu, mát mẻ, có chỗ lạnh như xứ ôn đới, nên giới quý tộc Pháp cai trị đất nước Campuchia chọn làm nơi nghỉ dưỡng.Từ năm 1925, họ xây dựng nhà thờ, trường học, bưu điện, biệt thự, khách sạn cao cấp, casino… với tên gọi Bokor Hill Station, công nhận Bokor là Công viên quốc gia. Người Pháp lên đây tiệc tùng. Người Trung Quốc lên đánh bạc. Rất nhiều người thua cháy túi nhảy xuống vách đá phía sau casino. Thập niên 1950 – 1960, vua Sihanouk, hoàng tộc và giới tài phiệt Campuchia chọn nơi đây làm nơi nghỉ dưỡng, thư giãn. Thời hoàng kim của Bokor rồi cũng qua đi, tất cả các công trình đồ sộ đều hoang phế đến đỗi người ta gọi nó là “Thành phố ma”. Song, cái vẻ hoang tàn, kỳ bí ấy đã khiến các nhà làm phim chọn làm bối cảnh quay hai bộ phim “City Of Ghost” (2002) và “R-Point” (2004). 


Khách tham quan nào cũng thích có tấm ảnh kỷ niệm nơi phái sau lưng, bên trái, xa xa là đảo Phú Quốc (Việt Nam).

Đối lập với “nơi kỳ lạ nhất thế giới”, ngày nay Bokor là một phần của Công viên quốc gia Preah Monivong (1993), có khu giải trí nghĩ dưỡng phức hợp đang hình thành là Thansur Bokor, mang phong cách Khmer hiện. Quy mô khu nghỉ dưỡng rộng trên 60.000m2, trên độ cao 1.079m, với hơn 412 phòng nghỉ tiêu chuẩn và cao cấp; khu ẩm thực phong phú với tổ hợp 12 nhà hàng; khu giải trí quốc tế với các trò chơi đa dạng, không gian hội nghị, phòng tiệc rộng lớn, nhà hát tân kỳ sức chứa hơn 6.000 người; khu giải trí sang trọng với các phòng KTV, disco được thiết kế đặc biệt; khu spa đẳng cấp kết nối phòng tập thể hình, hồ bơi hiện đại; sân golf 18 lỗ được thiết kế bởi golf thủ lừng danh, Arnold Palmer; khu giải trí giáo dục trẻ em rộng trên 200m2… Thansur Bokor do tập đoàn Sokha thực hiện. Sokha là con gái tỉ phú đô la Sokkong, người sinh ra tại Prey Veng (Campuchia) nhưng có cha mẹ gốc Việt. Khởi nghiệp với 1,5 chỉ vàng, Sokkong giờ làm chủ nhiều ngành nghề trên đất Campuchia và Việt Nam. Ông là người Việt duy nhất được Quốc vương Sihanouk ban tặng tước hiệu Oknha (Công tước) vì những cống hiến cho xã hội… 

 
Chùa Năm Thuyền cổ kính

Con đường lên núi khi mới mở phải tốn 5 đô la Mỹ mới được vào, nay không còn nữa. Công viên quốc gia Bokor có nhiều thú hoang dã, các loài chim quý hiếm. Bokor là ngọn núi có thể nói đẹp nhất đất Chùa Tháp. Vào mùa mưa, trên lưng chừng núi dầy đặc sương mù, có khi cách 1m không nhìn thấy nhau. Đến với Bokor là đến với huyền thoại đậm chất dân gian và hiện thực sinh động đang dần biến nó thành nơi du lịch sinh thái hấp dẫn nhất Campuchia.

-----------


Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Một đêm với “vua đầm”



“Vua đầm” là tên phóng viên Hãng phim truyền hình TPHCM (TFS) ”tặng” ông Nguyễn Văn Hùng (Hai Hùng) - người có nhiều nhà chòi, người làm du lịch homestay duy nhất trên đầm Thị Tường 

Đầm Thị Tường là hồ nước tự nhiên lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long, còn được mệnh danh “Biển Hồ giữa đồng bằng”, rộng nhất 3km, dài 10km, diện tích mặt nước khoảng 700ha. Đầm được bồi lắng bởi phù sa sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc cùng nhiều kinh rạch của ba huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Cái Nước (Cà Mau). Tọa lạc giữa hai huyện Phú Tân và Trần Văn Thờ, đầm có ba đầm chính: đầm Trong, đầm Giữa và đầm Ngoài, nối với con sông tiếp quốc lộ 1A, sông còn lại chảy ra vịnh Thái Lan. Trong ba đầm, đầm Giữa lớn nhất, như trái bóng phình hết cỡ. Trên đầm có khoảng 20 chòi lớn nhỏ - nơi ngư dân canh thu hoạch cá tôm mà họ đặt chà, đáy nhỏ, nò, đó…, nằm giữa mênh mông trời nước...

“Vua đầm” Hai Hùng giới thiệu lú đựng ghẹm
sẽ tặng anh bạn trong đoàn chúng tôi


Ông Hai Hùng, người có nhiều chòi nhất trên đầm Giữa, trong đó có một chòi lớn nhất. Vì lớn nhất (10mx20m) nên người ta gọi “nhà nổi trên đầm”, hoặc “thủy biệt thự”. Trong nhà có đủ tiện nghi vật chất, thậm chí còn có chiếc xuồng cũ trồng rau cải, có chuồng heo, gà, vịt. Chúng tôi đến “thủy biệt thự” bằng mấy chiếc vỏ (vỏ lãi) do các con Hai Hùng vô “bờ” đón, và thích thú hòa mình vào cuộc sống vừa hoang sơ vừa khá hiện đại của cái ông “Robinson” giữa “hoang đầm" nầy.

Hai Hùng là một người cao lớn, râu mép hơi rậm, nói cười hệch hạc y chang người miền Tây cũ bây giờ hiếm gặp. 51 tuổi, cách đây khoảng 30 năm, ông đưa vợ ra đây cất chòi “độ nhựt” bằng tôm cá dưới mặt nước đầm. Mùa nào loại nấy, ngác, chẽm, nâu, đối, ghẹ, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua, ghẹm..., ê hề. Chúng, qua nhiều năm tháng, giúp Hai Hùng cũng như nhiều ngư dân khác trên đầm trở thành những người giàu có. Hai Hùng nói tháng 9 ghẹm nhiều vô kể, chạy máy chém văng xác ghẹm đầy vỏ, là nguồn phân, nhiều năm trước. Bây giờ, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cho biết: “Ở đầm, vào mỗi con nước rằm hay ba mươi, ghẹm nhiều vô số. Lớp vô lú, lớp bu đầy bập dừa thả lềnh bềnh ngắm trời chơi. Ở đầm người ta cầu kỳ ghê lắm, muối toàn là ghẹm cái, loại nhiều gạch nhất, ăn vừa mặn lưỡi vừa béo ngậy”. Vô mùa ghẹm, dở dở cũng có được năm bảy trăm ký một ngày.

"Thủy biệt thự”trong chiều tà

Hai Hùng lái vỏ đưa chúng tôi dạo quanh đầm. Buổi chiều, mặt trời dần xuống thấp phía biển Tây, những tia nắng hấp hối đỏ sẫm lan tỏa những vệt lấp lánh mặt nước gơn sóng không gì đẹp bằng. Mấy ngư dân trầm mình trong làn nước lạnh, nhô đầu lên, thu hoạch thủy sản nhìn Hai Hùng chào nói rổn rảng. Hai Hùng nói mùa khô nước ngang ngực, mùa mưa, cao nhất trên dưới 1,6m. Hai Hùng cho biết cá ở đây lớn lên ra biển rồi trở về theo quy trình thủy sinh... Né tránh những hàng cọc tre hàng hàng lớp lớp nhô trên mặt nước, Hai Hùng bảo đó là khu nuôi sò của những tỷ phú Kiên Giang đến mướn mặt nước. Họ mua sò giống vụt xuống, đạp xuống sình, quây giữ bằng lưới mành. 

Vỏ chạy hết đầm mất hai tiếng đồng hồ chuyến tham quan lý thú với chúng tôi, khách thành thị. Nhưng khi về nhà Hai Hùng lại là một điều kỳ thú khác với trên sàn ván đước trải tấm nylon lớn rộng ê hề những món ăn chế biến từ thủy sản nước pha chè đầm Thị Tường. Nào canh chua cá ngác. Cá ngác kho. Ghẹm rang me. Bánh tôm tích chiên. Tôm thẻ đầy tú hụ một dĩa lớn. Một dĩa bự đầy nhóc những con cua yếm vuông – đặc sản chỉ có tại đầm. Chính những con cua nầy đã khiến chúng tôi mê mệt. Thịt chắc, ngọt ngon, không khai, ăn hoài không chán. Rồi tôm thẻ. Con nào con nấy lớn cỡ ngón tay cái. Ăn chưa kịp hết, con Hai Hùng đổ một dĩa lớn đầy... tiếp mồi! 

Dạo chơi trên đầm bằng vỏ lãi


Trong câu chuyện tầm tình nhiều lý thú, Hai Hùng cho biết đầm có tên chính là Bà Tường, theo truyền thuyết bà là người tiên phong khai thác đầm nầy, nên người ta kính trọng gọi đầm Bà. Về sau, gọi đầm Thị Tường. Nằm giữa đồng bằng nên đầm chiếm một vị trí môi trường sinh thái vô cùng độc đáo với vẻ hoang sơ bốn bề là những rặng dừa nước vươn cao ngọn lá lên trời, cho nên người ta còn gọi đầm Dừa Nước. Hào hứng với câu chuyện, uống rượu đế không đã, Hai Hùng vô buồng ôm hũ rượu pha mật ong rừng ra. Chị Hai Hùng, Dương Thị Lụa, thố lộ mật nầy do con chị đi “ăn” quanh rừng dừa nước ven bờ. Uống một ly rượu mật ong, thịt cua, thịt tôm... hầu như bay biến, đặc biệt cái lạnh của những ngày cuối năm, của những ngọn gió trời lồng lộng xuyên đầm chẳng hề hấn gì. Vui miệng, Hai Hùng kể, có đoàn khách Hàn Quốc do Nguyễn Ngọc Tư đưa ra chơi, uống rượu nầy khoái quá, “quá hớp”, bước xuống vỏ, té. Tuy “tắm bùn” dơ hầy nhưng anh ta vẫn cười vui hí hửng. Nói về Nguyễn Ngọc Tư, vợ chồng Hai Hùng rất thân mật, gọi ”Bé Tư”. Họ cho biết, trong năm 2013, “Bé Tư” đã đưa 12 đoàn đến tham quan, ăn nghỉ tại đây. Chúng tôi là đoàn thứ 13 do “Bé Tư” giới thiệu. “Bé Tư” không theo được vì nhằm ngày chủ nhật mắc ở nhà giữ con. 

Đêm dần buông. Nhằm ngày rằm, mặt trăng dần lên, tỏa những tia sáng yếu ớt nhưng kỳ ảo xuống đầm, là một cảnh quan cực kỳ khả tú. Chúng tôi ngắm trăng, uống rượu, thưởng thức mồi bén, nhưng chẳng ai “rớ” tới tô canh chua cá ngác và tô cá ngác kho, dù cả hai đều rất ngon. Ánh trăng càng lúc càng vằng vặc. Câu chuyện tới khuya rồi cũng tàn. Chúng tôi chìm trong giấc ngủ ngon trong căn “thủy biệt thự” có nhiều cửa nhưng không cửa nào có cánh. 

Chòi lá canh lú, dớn, lọp,lưới... khai thác thủy sản trên đầm

Chưa rạng sáng chị Lụa lo nấu một chảo cháo với tép thẻ phục vụ cái dạ dầy của chúng tôi. Tô cháo ngon, ly trà thơm càng ấm bụng. Chúng tôi “bàng hoàng” khi thấy những tia nắng ban mai yếu ớt rọi màu đỏ hoang sơ vào nhà. Nhìn ra. Buổi sáng tinh mơ, mặt nước đầm trong vắt như pha lê. Trong chốc lát, những rạng mây ngang đầu ngày nhuộm mặt nước đầm một màu hồng phấn, không họa sĩ tài ba nào có thể phối nổi. Mặt trời ló dạng, sương sớm tan dần, những vệt sáng đỏ ban mai lăn tăn gờn gợn khắp mặt đầm, cảnh quan càng thêm kỳ ảo. Chia tay, vợ chồng Hai Hùng bịn rịn. Chị Lụa “tức tối” trách sao ra đây không cho hay trước để chuẩn bị “đồ đạc”, nhất là mắm. Mắm ở đây ngon nhứt hạng, chỉ cần hé cái nắp đậy một chút đã nghe thơm lừng lựng mũi, như “Bé Tư” khen. Cô ấy còn nói “cái xứ ngộ, con người nhiệt tình, chưa kịp nói gièm thì đã dúi vào giỏ biểu mang về rồi”. Anh bạn tôi khoái món ghẹm rang me, hỏi mua, Hai Hùng tặng đem về ăn “lấy thảo”... 

Homestay nhà Hai Hùng một chiều, một đêm và rạng sáng, mỗi người chỉ tốn có 200.000 đồng. Rẻ rề. Nhiều đoàn khách ra đây, ngoài khách “Bé Tư”. Hỏi tại sao, Hai Hùng tâm sự người ta ra chơi, về post lên mạng, đồn đãi riết thành điểm du lịch sinh thái thứ thiệt như vầy. ●


■■■■■■■■■■■■■■■■■


Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

“Xái pấu Chịt Sa”


Từ nhiều năm nay, địa phương nào thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long mở hội chợ thì nơi đó có sự hiện diện của “Xái pấu Chịt Sa”. Và, một khi “tiếp cận” với “xái pấu Chịt Sa” rồi, thì y như rằng người ta bị nó “hớp hồn”. Bởi, ngoài bao bì đẹp, rút chân không, “xái pấu Chịt Sa” còn hấp dẫn người thưởng thức do vị mặn vừa phải, độ giòn, thơm không loại “xái pấu” nào có được. Ửu điểm khác là “xái pấu Chịt Sa” dù chưa chế biến thành món ăn cũng đã tỏa ra một mùi thơm đặc trưng cuốn hút. Chính cái mùi nầy đã giúp những củ “xái pấu Chịt Sa” lan tỏa đến nhiều nơi trong khu vực, hơn thề nữa, đã đi ra một số nước trên thế giới.


Bịch củ cải muối hút chân không


Nhãn hiệu “Xái pấu Chịt Sa”

“Xái pấu” là gọi theo tiếng Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc), người Việt gọi “củ cải muối”. Gọi củ cải muối vì đây là loại thực phẩm được làm một cách đơn giản bằng cách “muối” củ cải trắng với muối hột. Chỉ có vậy nhưng đâu phải ai làm cũng đều cho ra một thứ củ cải muối ngon như “xái pấu Chịt Sa”.

Để có những củ “xái pấu” “tuyệt hảo” như vậy là do công của Chịt Sa (có nghĩa là chú Ba). Năm 1947, Trung Quốc lâm vào cảnh chiến tranh ác liệt. Người giàu còn khổ huống hồ kẻ nghèo như chịt Sa, nên ông phải khăn gói lên đường sang Việt Nam tìm đất sống. Chịt Sa chọn Giồng Lớn (Trà Kháo, Cầu Kè, Cần Thơ - nay thuộc tỉnh Trà Vinh) làm nơi định cư vì có người anh thứ tư sang đây từ lúc nhà Thanh lật đổ nhà Minh lên cai trị đất nước này. Là mảnh đất giồng nên Trà Kháo rất phù hợp với tập quán làm rẫy của người Tiều như chịt Sa. Một năm, gần Tết, củ cải trắng rộ, bán không hết, còn dư khá nhiều, chịt Sa bèn nghĩ đến việc làm “xái pấu” – một thức ăn dân dã, ngon mà người Hoa ưa dùng, lại để được rất lâu ngày, càng lâu càng ngon. Vậy là ông bắt tay thực hiện.
Công thức biến củ cải trắng thành “xái pấu” là trộn với muối hột ủ trong vòng 7 ngày. Đơn giản là vậy, nhưng càng ngày chịt Sa càng ngẫm nghĩ cách cải tiến để “xái pấu” của mình thơm và ngon hơn “xái pấu” của những người khác. Nhờ vậy mà nó đã thu phục cảm tình của những người sành ăn nơi mảnh đất vùng sâu vùng xa của tỉnh Trà Vinh này.


Ông Vương Tiển Khanh

Chịt Sa qua đời, ông Vương Tiển Khanh (năm nay 50 tuổi) nối nghiệp. Từ nhỏ Tiển Khanh đã chăm chỉ phụ cha trong công việc sinh nhai nên học được thủ thuật làm những củ “xái pấu” ngon nổi tiếng của cha. Theo Tiển Khanh, để “xái pấu” được như vậy, phải trải qua nhiều công đoạn công phu. Đầu tiên mua củ cải trắng loại nhứt về, loại bỏ những củ mập xốp, khuyết tật, sâu bịnh…, cắt bỏ lá, đem phơi. Sân phơi tráng xi măng ở nơi có nhiều ánh nắng, trải lớp rơm lúa mùa (loại rơm sạch nhứt) rồi phủ lưới, sau đó trải đều củ cải trắng lên. Sáng phơi, chiều tối trộn cải với muối hột Bạc Liêu rồi ủ trong cống xi măng lót nylon, đậy kín miệng cũng bằng nylon. Sáng hôm sau móc cải ra rửa cải sạch bằng nước muối đọng trên lớp nylon đáy cống rồi đem phơi. Làm như vậy trong 7 ngày là đã có” xái pấu”. Khoảng 7kg cải tươi cho 1kg “xái pấu”. Để đưa ra thị trường, ông bỏ những củ ăn muối không đều. Còn lại, ông cắt bỏ đầu và đuôi, ủ trong kiệu đậy kín nắp, bán dần. Tiển Khanh cho biết, công đoạn làm “xái pấu” tưởng đơn giản nhưng thật ra đòi hỏi bản lĩnh ở chỗ “đi muối”. “Đi” không đúng muối coi như công cóc! “Xái pấu” rất kỵ nước, dính nước sẽ hư thúi.
Nối nghiệp cha, Tiển Khanh không thể khoanh tay ngồi hưởng thụ. Ông muốn xái pấu của mình phải ngày một thơm ngon hơn, phát triển hơn, không chỉ trong phạm vi thị trấn Cầu Kè và một số người ở Trà Vinh biết tiếng, như “gia sản” cha để lại. Vậy là ông tiến hành làm đơn gởi Cục Sở hữu trí tuệ để được công nhận danh hiệu “Chịt Sa củ cải muối đặc sản Cầu Kè – Trà Vinh”. Để được như vậy, “Xái pấu Chịt Sa” của Tiển Khanh phải được công nhận an toàn vệ sinh thực phẩm. Và đầu năm 2011, “Xái pấu Chịt Sa” đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận danh hiệu trên.


Di ảnh Chịt Sa

Tiến thêm một bước, Tiển Khanh mua máy hút chân không về, cho “xái pấu” của mình vô bọc nylon dầy, ép lại với nhãn hiệu khá bắt mắt. Mỗi bọc 250gr, khách mua không ngại tiền, không mất công tồn trữ trong nhà, vì bấy nhiêu đủ để hầm một nồi canh đuôi heo đậu phộng hoặc bằm chiên hột vịt tươi đủ cho cả nhà dùng bữa. Nếu muốn tồn trữ thì bọc “xái pấu” hút chân không có thể để lâu dài, rất tiện. “Xái pấu” hút chân không của Tiển Khanh đã đặt chân vào Siêu thị báo Sài Gòn Tiếp Thị từ gần 1 năm nay với giá 17.500đ/bịch 250gr. Bên cạnh đó, ông còn làm “xái pấu” trộn. “Xái pấu” xắt thành lát trộn giấm ớt và đường cho vô bọc, bán 12.000đ/bịch 200gr. Chỉ cần mở bịch nylon ra là đã có “xái pấu” “ăn liến” với cháo trắng hoặc cơm.
Dù quyết tâm cao, muốn “xái pấu” của mình đi xa hơn, nhưng Tiến Khanh đang vấp phải khó khăn về tiền bạc và hoàn cảnh sản xuất. Mỗi năm, ông chỉ có đủ tiền thu mua củ cải trắng từ Duyên Hải, Cầu Ngang (Trà Vinh) trong tháng 11 và 12 âm lịch. Đây là mùa củ cải trắng rộ, giá rẻ và có nhiều nắng để phơi, ủ. Một năm, “Xái pấu Chịt Sa” chỉ sản xuất khoảng 2,6 tấn, bán đến tháng 7 âm lịch là hết.


Củ cải muối tổ

Về tên gọi “xái pấu”, Tiển Khanh cho biết nó có nghĩa là “cải bổ”. “Xái pấu” để lâu năm gọi là “lào xái pấu”, là “lão cải bổ”, một vị thuốc. Tại nhà Tiển Khanh có một số “xái pấu” để khoảng 15 năm mà ông gọi vui là “củ cải tổ”. Cắt 1 miếng nhỏ cỡ nút áo, nhai, uống hớp nước, hết no hơi, sình bụng, hoặc cảm mạo phong hàn…



“Xái pấu” trộn

Không như “xái pấu” các nơi khác, khi ăn phải ngâm nhiều nước, có khi phải ngâm với nước pha muối đậm đặc với mục đích khử độ mặn của nó. “Xái pấu chịt Sa” chỉ cần rửa một lần nước là sẵn sàng pha chế. “Xái pấu” thường được hầm với đuôi hoặc thịt mông heo cùng đậu phộng thành món ngon bổ dưỡng. Xắt “xái pấu” thành lát trộn giấm đường ăn cháo trắng, là món ăn ưa chuộng đầu ngày của người Tiều. “Xái pấu” xắt rồi bằm chiên hột vịt là món ăn cháo không gì ngon hơn. Ngoài ra, người ta còn xắt “xái pấu” thành từng lát, trộn với nước tương và ớt ăn rất tốn cơm. Lạ cái, dù làm thành món gì, “xái pấu chịt Sa” cũng thơm nồng nàn, giòn tanh tách, mặn ngọt quyến luyến khẩu cái.