Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Về Bạc Liêu vui Tết Thanh minh



Du lịch Bạc Liêu có những điểm tham quan hấp dẫn như Vườn chim Bạc Liêu, tháp cổ Vĩnh Hưng, Khu du lịch Nhà Mát – Quan Âm Phật đài, Giồng Nhãn,.. Bạn nên sắp xếp thăm thú các danh lam thắng cảnh nầy 1 ngày trước ngày Tết Thanh minh - lễ hội đậm nét văn hóa người Hoa sống hàng mấy trăm năm trên mảnh đất ven biển đồng bằng sông Cửu Long nầy.  


Mộ Tiều ở Nghĩa trang Tiều Bạc Liêu trong ngày  Thanh minh

Năm nay, Tết Thanh minh diễn ra ngày 4-4-2016, tức 27-2 âm lịch. Nhưng trong suốt tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch, người Hoa, đặc biệt là đồng bào Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Hoa) rộn rịp chuẩn bị cho ngày tết quan trọng nầy. Cả gia đình họ cùng nhau đi tảo mộ - quét tước sạch sẽ phần mộ người thân, sơn phết những tấm bia mộ phai màu qua thời gian mưa nắng, nhổ sạch cỏ dại trên hoặc chung quanh nấm mộ. Đặc biệt, tiêu diệt những cây thân mộc, vì họ cho rằng rễ cây đâm xuyên vào phần mộ sẽ khiến ông bà cha mẹ quá cố của họ nằm không yên, khiến gia đình họ làm ăn không được hanh thông…

Giá vé xe đò Sài Gòn – Bạc Liêu:Hãng Mai Linh, giường nằm 40 chỗ: 145.000 đồng | Các hãng Anh Tuấn, Đức Trọng, Hoàng Cung: giường nằm 40 chỗ: 160.000 đồng | Hãng Hân Nghĩa, ghế ngồi 45 chỗ: 160.000 đồng(Nguồn: Google)

Các điểm du lịch của Bạc Liêu :- Tháp cổ Vĩnh Hưng phát hiện năm 1911, được nhà cầm quyền đương thời xếp hạng thứ 14 trong danh mục các di tích lịch sử ở Nam kỳ. Tháp còn có các tên gọi tháp Lục Hiền, tháp Bhah Dhat…- Nhà thờ Cha Diệp ở Tắc Sậy, thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai.- Khu du lịch Nhà Mát – Quan Âm Phật đài ở khóm Nhà Mát, phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu.


Thành phố Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu) là nơi có đông cư dân người Tiều sinh sống lâu đời. Xưa kia họ định cư đông đến nỗi ca dao có câu (xin lỗi): “Bạc Liêu là xứ cơ cầu/Dưới sông cá chốt trên bờ Tiều Châu). Chính vì vậy mà Tết Thanh minh là ngày vui nhất, rộn rịp nhất đối với cư dân địa phương, là tết đoàn viên, biểu tỏ bổn phận con cháu đối với tiền nhân đã khuất. Nên con cháu dù đi làm ăn xa, nhất là nước ngoài, cũng cố gắng sắp xếp công ăn việc làm trở về tham dự. Đây là ngày giỗ chung để mọi người trong gia tộc báo hiếu với tổ tiên. Từ tang tảng sáng, khi trời chưa đâm mây ngang, trong ngọn gió mát lành thổi vào từ biển,  là họ đã tay xách nách mang những vật phẩm cúng tế đến Triều Quang Sùng Thiện Đường (nghĩa địa Tiều) cách trung tâm thành phố Bạc Liêu 3km. Những chiếc xe gắn máy è ạch chở nặng hương đèn hoa quả, bánh mứt cùng các thức cúng mặn. Những chiếc xe bốn bánh chở cả gia đình cũng với nhiều thức cúng cùng nhau hướng về khu nghĩa trang. Không khí như một ngày hội. Cụ Nguyễn Du đã diễn tả: “Thanh minh trong tiết tháng ba/Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”, khung cảnh cũng gần giống như vậy ở Bạc Liêu.


Cúng mộ trong ngày Thanh minh

Nghĩa trang Triều Châu Bạc Liêu là khu đất rất rộng. Nơi đó là tập hợp nhiều ngôi mộ lớn nhỏ nằm ngay ngắn, song hành. Gồm hai khu: Khu xi măng dán gạch men là mộ cải táng. Còn lại là những ngôi mộ đất. Mộ Tiều truyền thống luôn chiếm diện tích lớn. Bao quanh nấm mộ là bờ thành đất hình vòng tay mở, phía lưng cao hơn như có ý che chở, giữ sự ấm áp cho nấm mộ chính. (Ngày nay đất chật người đông, loại mộ chiếm nhiều diện tích như vầy không còn nhiều). Trước nấm mộ có ba phần: Phần nhỏ nhất là bia mộ với những hàng chữ Hoa khắc sâu, sơn đỏ, tên người nằm dưới mộ được sơn màu xanh hoặc đỏ. Màu đỏ là mộ phần của người dưỡng già (còn sống). Còn màu xanh biểu thị dưới lòng đất lạnh là nắm xương người đã khuất. Hai bên bia mộ là cặp liễn đối. Phía trước bia mộ là không gian khá rộng được lót đá phiến hoặc gạch tàu, hay tráng xi măng. Đó là nơi người ta dọn thức cúng. Lễ cúng Thanh minh được chuẩn bị chu đáo với một bộ tam sên, nhang, đèn, giấy tiền, vàng bạc, quần áo giấy… cùng các loại bánh trái, thức ăn, thức uống… Đặc biệt, người khá giả thường có heo quay. Tuy nhiên trong thức cúng nhất thiết phải có bánh bao không nhân. Vừa đến mộ phần, người dọn thức cúng, người lo gắn giấy ngũ sắc lên nấm mộ, gọi là “bận áo mới cho mộ”. Thường thì trẻ con rất thích thú công việc nầy. Vì vậy, nhìn tổng quan khu nghĩa trang rất vui mắt, không buồn thảm như ngày thường. Cúng xong mấy tuần trà, rượu, người ta đốt giấy tiền, vàng bạc, quần áo giấy… rưới chút rượu, rải muối gạo chung quanh là hoàn tất. 


Tiệc đoàn viên trong Tết Thanh minh

Tất cả thức cúng dọn ra phần cánh cung rộng lớn ngoài cùng trước mặt mộ, cả nhà xúm xít chung vui với rượu thịt ê hề. Dịp hiếu hỉ nầy khiến tấm lòng họ rộng mở, bạn đến tham quan sẽ được họ niềm nở mời dự bữa “điểm tâm nặng”. Trong niềm lâng lâng càm khái của một buổi sáng nắng mai hưng hửng, người trộng tuổi kể con cháu nghe ngày xa xưa, buổi cúng Thanh minh thường diễn ra vào xế chiều. Chiều đó, người ta nườm nượp trên đường gánh gồng thức cúng đến nghĩa trang. Cúng xong, nắng tắt, tiệc bày ra vừa ăn vừa ca hát vui vầy cả đến khi trăng lên, nếu nhằm ngày có trăng. Thật là một không khí đoàn viên ấm cúng, vui tươi. Đây cũng là dịp nam thanh nữ tú quen nhau, kết thân, có khi kết duyên giai ngẫu. 

Điểm đặc biệt là Thanh minh ở Bạc Liêu không chỉ với người Tiều mà còn có sự tham dự của đồng bào Khmer. Người Tiều lai Khmer. Sự pha trộn huyết thống tạo ra nét văn hóa tâm linh. Theo tập quán, người Khmer qua đời được hỏa táng, gởi nắm xương tàn vào tháp cốt trong chùa. Vì vậy ngày Thanh minh gia đình họ cũng đến đây dán giấy ngũ sắc lên thành tháp cốt rồi cúng bái, cùng thưởng thức thức cúng một cách an vui. Để thấy được cảnh nầy, bạn nên rong xe đến chùa Xiêm Cán, cách thành phố Bạc Liệu 12km. Trên đường về, bạn ghé tham quan cây xoài 300 tuổi (xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu) đã được công nhận “Cây di sản Việt Nam”. Đặc biệt, cạnh cây xoài quý nầy có ngôi mộ “khổng lồ”, gọi “mộ trăm người”. - vì chứa hàng trăm hài cốt chưa có người nhận sau khi chính quyền thông báo giải tỏa khu nghĩa trang, gom lại. Dù là mộ “vô chủ” nhưng trong ngày thanh minh nấm mộ đất cao vời cũng rực rỡ với những tờ giấy ngũ sắc hình chữ nhật dài phất phơ vui mắt trong gió chướng. 


Mộ trăm người tuy “vô chủ” nhưng cũng được bá tánh “bận áo mới” trong ngày Thanh minh

Trên đường về, cách đó không xa, bạn ghé Giồng Nhãn (có trên 1 thế kỷ) thưởng thức những chiếc bánh xèo giòn rụm, bùi béo mỡ cùng những cọng rau thơm giòn ngọt chân răng. Chiều về thành phố Bạc Liêu, bạn nên tham quan chiếc đồng hồ đá có một không hai ở Việt Nam do bác vật Lưu Văn Lang sáng tạo và thực hiện. Sau đó, băng qua lộ, bạn vào hậu viện khu nhà Công tử Bạc Liêu (mặt tiền số 31 Điện Biên Phủ). Buổi tối, cũng nên thử một đêm ngủ trong phòng công tử Bạc Liêu nơi khách sạn mang tên người con địa chủ giàu có, để thử hưởng cảm giác “phong lưu công tử” trước khi rời thành phố duyên hải miền Tây. Sáng đó, bạn đừng quên điểm đặc sản Bạc Liêu với bún bò cay hoặc bánh tằm Ngan Dừa hay bánh củ cải.

--------------------------------------------------------------



Thanh trà vàng cam màu nắng phương Nam


Thanh trà vàng cam màu nắng phương Nam

Năm nào cũng vậy, cứ sau Tết Nguyên đán, dài theo hai bên đường dẫn lên cầu Cần Thơ (phía TX Bình Minh, Vĩnh Long) là khách qua đường thấy lạ. Họ vui mắt với những chùm trái thanh trà vàng cam màu nắng treo lủng lẳng dưới những tán dù, đung đưa trong cơn gió chướng phần phật thổi. Và màu vàng gợi cảm của những chùm trái cây nhiệt đới nầy hình như giúp họ dịu đi cơn khát trong ánh nắng rực rỡ của những ngày gay gắt nắng.

Càng vào sâu mùa trái thanh trà (khoảng đầu tháng 3 âm lịch), người ta treo bán trái cây đặc sản của TX Bình Minh dài theo quốc lộ 54, từ ấp Phù Ly (TX Bình Minh) đến khỏi thị trấn Trà Ôn (Trà Ôn, Vĩnh Long), qua cả TP Cần Thơ. Sáng cũng như chiều tối, hai bên đường lúc nào cũng lủng lẳng những chùm trái thanh trà mời gọi, “hút hồn” khách qua đường. Tuy nhiên bán đậm đặc nhất vẫn là khu vực xã Đông Bình, nhất là xã Đông Thành. Đông Thành có 40 ha đất nông nghiệp, mà diện tích trồng thanh trà chiếm đến phân nửa, từ ấp Đông Hưng đến ấp Đông Hòa và Mỹ Hòa, nhưng nhiều nhất là ấp Đông Hưng 2. Có dịp ngang qua đây, tưởng cũng nên vào thăm những khu vườn thanh trà um tùm dọc theo bờ sông Hậu. Tuy nắng gay gắt nhưng vào đây, người ta được hưởng bầu khộng khí dịu mát. Trước mắt là những tàng cây xanh đậm, chi chit những trái thanh trà vàng cam treo lủng lẳng gọi mời. Bạn sẽ được chủ vườn mời thưởng thức ly nước thanh trà giải khát và nghe họ kể nguồn gốc loại cây đặc sản địa phương nầy. Theo đó, ngày xưa, nhà ông cả có mấy cây thanh trà chua. Người quen thấy cây lạ, có trái đẹp, xin giống về trồng. Mấy năm sau cây ra trái, thương lái Sài Gòn đi ngang thấy trái màu đẹp mắt, hỏi mua. Rồi từ đó loại trái cây nầy trở thành sản phẩm ngày càng phát triển, bán cả Sài Gòn...


Theo Dược sĩ Phan Đức Bình (Tạp chí Thuốc & Sức khỏe, số 331, ngày 1-5-2007) thanh trà là cây mọc hoang, người xưa gọi xoài hoang dại (Wild Mango), tên khoa học Bouea Oppositifolia (Roxb.) Meissn., tên cũ Mangifera Oppositifolia Roxb, cùng họ Anacardiaceae với cây xoài. Vì giống trái xoài nhưng lớn cỡ ngón chân cái, nên dân Đông Thành gọi xoài mút (khi ăn phải mút) hay xoài hột (vì hột to).

Từ một loại cây hoang dã, thanh trà đã được thuần chủng thành cây ăn trái hấp dẫn. Trái thanh trà khi ăn phải vò mềm, lột bỏ vỏ, chấm muối ớt. Nếu làm nước giải khát thì vò xong, dằm trong ly với đường cát, dằn chút muối hột, cho nước sôi để nguội vào, quậy đều. Người ta còn dùng  thanh trà làm gia vị trong món ăn. Vị chua thanh của trái hơn hẳn vị chua của các loại cây trái khác, hơn cơm mẻ, hèm…, khiến thịt cá chua có mùi thơm dịu, nhất là nước của nó húp một cái “đã thần hồn”! Người ta còn dùng trái thanh trà làm thành mứt, dành cho khi mùa trái chấm dứt vào cuối tháng ba âm lịch. Theo y lý, thanh trà có tác dụng ngừa và trị các chứng bệnh: cao huyết áp, người có thể trạng suy nhược, người bị bệnh nan y, đặc biệt bệnh ung thư. Được như vậy nhờ thanh trà có chứa nhiều beta carotene, vitamin nhóm B, các hoạt tính chống oxy hóa, acid ascorbic, các acid amin, enzym, bioflavonoids, giàu khoáng chất như crome, kali, magne...

Có xuất xứ từ Phú Quốc nên thanh trà được bán ở ngã ba Rạch Sỏi (Kiên Giang). Đặc biệt, ở Phú Quốc  người ta gọi thanh trà là sơn trà vì nó mọc trên núi cao. Tại hòn đảo ngọc nầy, gốc rễ và cành nhánh sơn trà già được “nghệ nhân” Nguyễn Văn Dũng ở Bãi Thơm chế tác thành những chiếc giá võng. Tùy giá võng lớn hay nhỏ, giá dao động từ 7 triệu đồng đến 16 triệu đồng. Sản phẩm “độc lạ”, “không đụng hàng”, “ác phẩm nghệ thuật” nầy của ông Dũng đều được các “đại gia” đất liền ưa thích. Giá mắc như vậy vì loại cây nầy không bị mối mọt xông. 

Giá võng sơn trà – hàng “độc”


Thanh trà đầu và cuối mùa luôn cao giá. Năm 2015, nhà vườn Đông Bình đúc kết giá 1kg thanh trà bằng giá 10kg lúa. Nhưng năm nay giá đó “rớt hàng”, dao động từ 60.000 đồng/kg đến 70.000 đồng/kg, vì mùa trái “thất”. Thanh trà có hai loại: chua và ngọt. Giá thanh trà ngọt cao hơn thanh trà chua chừng 10.000 đồng/kg đến 15.000 đồng/kg. Giữa mùa, giá thanh trà thấp hơn đầu và cuối mùa.





Thứ Hai, 21 tháng 3, 2016

Cánh diều tuổi thơ




        “Tháng giêng ngắm trẻ thả diều/Lòng nghe sống lại ít nhiều tuổi thơ” là hai câu thơ chân chất, của nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà mà tôi thuộc nằm lòng từ lâu. Vì vậy, khi, sau những ngày Tết Nguyên đán sum vầy, nắng chang chang và gió phần phật, tôi “sống lại” tuổi thơ của mình khi ra ngoại thành, nơi có những mảnh đất rộng. Bước chân trên nền cỏ héo vàng, tôi nghe âm thanh vui nhộn của những đứa trẻ reo lên với ánh mắt ngóng cao nền trời, nơi có nhiều cánh diều no gió tung bay tạo những niềm vui. Tôi nhớ về miền quê xa.

        Đó là mảnh đất nằm bên nhánh nhỏ sông Hậu hiền hòa. Nơi, sau những ngày làm ăn vất vả, buổi chiều tháng giêng, ba tôi thường thư giãn cùng tôi qua cánh diều lồng lộng gió chướng. Tôi cầm con diều giấy, tung tăng nhịp theo bước chân ba qua con phố nhỏ, đến sân vận động địa phương. Lúc đó, trên nền cỏ xanh đã có nhiều người – cả người lớn và trẻ nhỏ – đang vui vầy với những cánh diều dễ thương của họ đang đùa vui trong gió. Ba tôi cầm con diều tự làm mấy ngày trước trong tay, nghiêng nghiêng cánh diều, chạy lấy trớn rồi nhẹ nhàng buông tay cho nó vút lên từng không. Con diều uốn éo làm duyên, càng lên cao càng đằm lại, lượn lờ hai chiếc đuôi như hai mảnh tơ phất phơ trong gió, trong ánh nắng chiều vàng vọt dần tắt phía chân trời xa. Tôi cầm sợi nhợ chắc trong tay, sợ nếu lơ đãng sợi nhợ vuột khỏi tay, cánh diều sẽ bay mất. Niềm vui của tôi dâng cao theo cánh diều trên không trong khi sợi nhợ được từ từ thả khỏi cuộn một cách cẩn trọng. Vậy mà cánh diều có lúc cũng đành đoạn lìa khỏi tay tôi khi sợi nhợ đứt bất ngờ. Cánh diếu băng, lảo đảo như người say rượu trong cơn gió giật! Tôi khóc nhìn theo diều rơi xuống một nơi xa không thể lượm lại được!

        Thấy tôi buồn, ba tôi làm cho tôi một con diều khác mà người gọi là con thửng. Con thửng lớn hơn con diều nên cần có sườn tre lớn, phất giầy dầy hơn, nhất là sợi nhợ phải lớn và chắc hơn. Kỳ công hết mấy buổi chiều, ba tôi mới hoàn thành con thửng. Ba dẫn tôi ra sân vận động rồi thả con thửng lên không trung. Hết chao dảo, rồi lượn lờ như e thẹn, con thửng mới bắt đầu đằm cánh giữa trời cao lộng gió. Nó êm ái với hai chiếc đuôi dài thượt lửng lơ phất nhẹ trên nền trời. Nhưng điều hấp dẫn nhất là trong ngọn gió chướng, từ con thửng của tôi phát ra những âm thanh êm dịu, lúc véo von, khi cao vút. Đó là những âm thanh mà người ta gọi là tiếng sáo diều. Tiếng sáo diều của tôi khiến cả sân vận động ai cũng đắm mình lắng nghe thích thú. Tiếng sáo diều đó đến nay vẫn còn trong tôi. Nhất là những cánh diếu tuổi thơ đến nay vẫn còn với tôi trong những buổi chiều “tháng giêng kéo dài”, khi mùa nắng và mùa gió chướng vẫn còn, lúc tôi vui diều cùng những đưa cháu thơ của tôi trong những buổi chiêu nhạt nắng ngoại ô thành phố. ●


Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016

Chiếc nón ngày xuân





Anh tặng em chiếc nón lá ngày xuân
Chỉ đơn giản như tình ta tươi tắn
Em sẽ thấy bài thơ tình trong nắng
Là lòng anh kết đọng bấy nhiêu ngày

Lòng anh đấy mịn màng như tơ trắng
Là lá buông kết lại mới nên vần
Thơ cuộc đời gắn chặt tấm lòng son
Để yêu dấu mát đầu khi nắng gắt

Lúc lên rẫy hay ra đồng hái gặt
Nón theo em làm dịu cái oi nồng
Tay thoăn thoắt em nhẹ nhàng thu hoạch
Vụ mùa thơm thoang thoảng bữa cơm chiều 

Ra phố chợ nón theo em từng phút
Làm đẹp thêm dáng ngọc bước chân xa
Em sẽ khiến khách qua đường ngơ ngẩn
Ngoái trông theo bóng trắng của em qua

Anh tặng em chiếc nón lá làm duyên
Là tặng cả tấm tình yêu trong ấy
Nón sẽ giúp em thơm mùi gió chướng
Lồng lộng về cho ngày Tết thêm xuân ■



Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Về cội




Gần ba chục năm anh mới có chuyến trở về Cầu Kè (Trà Vinh). Chuyến đi nhân người cháu lên Cần Thơ chơi, vui miệng cho biết Vu lan thắng hội ở chùa ông Bổn mấy năm rồi vui lắm.
- Ngày mốt bắt đầu vào lễ – Nó nhấn mạnh.

Trong anh thức dậy ngay bao kỷ niệm xưa cũ về nơi chôn nhau cắt rún của mình, một thị trấn vùng sâu vùng xa của tỉnh Trà Vinh chẳng có gì vui ngoài lễ hội độc đáo của đồng bào Tiều định cư tại đây hàng mấy trăm năm qua. Anh lẩm nhẩm câu hát:

Hăm lăm vào đám
Hăm tám ra giàn


Rồi nhớ tới những bội tre nhỏ mà năm nào nhà chùa cũng đem tới từng nhà cho bổn phố (1) nhận lãnh, đặt lễ vật vào trước khi đem cúng chùa trong ngày hăm bảy tháng bảy âm lịch. Còn từ ngày hăm lăm thì bao nhiêu chuyện cúng kiếng, tụng niệm diễn ra liên tục suốt ngày đêm do các nhà sư ở chùa Phật, chùa Khmer trong thị trấn chủ trì. Những ngày, những đêm đó, bọn trẻ các anh thường la cà suốt, rình khi người lớn sơ ý là nhanh tay chộp một nắm hột dưa, bánh in, bánh men để trong dĩa đặt trên bàn nước, chạy nhanh ra nơi nào đó túm tụm lại ăn, cười đùa hỉ hả. Lớn hơn một chút, cũng với cách ấy, bọn anh còn lấy cả thuốc Bastos hoặc Mélia rồi vừa ăn bánh kẹo vừa phì phà khói thuốc một cách khoái trá vì cho rằng (một cách tại hại) mình đã là người lớn rồi! Nhưng khoái nhất là khi đói bọn anh được ăn một bụng cháo trắng với xái pấu (2) ngâm giấm đường. Cái thứ cháo trắng nóng hổi, bốc hơi nghi ngút như có lửa trong đó, vậy mà thằng Sến (3) húp một cái rột là hết ngay. Mấy đứa còn lại dở hơn, nhấm nháp từng muỗng, nhờ vậy mới được thưởng thức cái hương vị tuyệt trần của một thức ăn hèn mọn là những lát xái pấu vừa mặn vừa ngọt vừa chua kích thích dịch vị, làm đậm đà khẩu vị, rất hòa hợp với thứ cháo trắng hạt gạo được nấu nở bung. Càng ăn càng mê, no phình bụng hồi nào không biết. Lệ chùa thường dọn sẵn trên bàn những dĩa xái pấu ngâm giấm ấy, bất cứ lúc nào trong những ngày lễ này, khách, bất kể người lớn hay con nít, cũng đều được đãi một bữa no nê. Nhưng đáng nhớ với bọn anh có lẽ là ngày “hăm tám ra giàn”. Sau khi cúng tất, nhà chùa cho người lên một giàn cao dựng sẵn ở sân vận động, cầm từng nắm thẻ tre ném rải khắp xung quanh. Người lớn và cả trẻ con huyên náo chen nhau giành giật từng chiếc thẻ một để rồi sung sướng vô chùa nhận bội đồ cúng của bổn phố. Mỗi thẻ tre được nhận một bội đồ. Mỗi bội đựng một thứ đồ cúng khác nhau: gạo, muối, mía, chuối, khoai… Nhận những bội đồ ăn ấy đem về nhà cũng là lúc những ngày vui trong năm của huyện lỵ nghèo này chấm dứt. Bọn anh trở lại với việc học hành cùng những trò chơi thôn dã.

Bây giờ trở lại mảnh đất quê nhà, lòng anh bồi hồi khôn xiết, vì anh đi biệt từ khi mới mười tuổi đầu. Đứa cháu chở anh trên chiếc Dream phóng như bay trên con đường tráng nhựa phẳng phiu. Cảnh quan hai bên đường thật đẹp, còn đậm bản sắc một nông thôn Nam bộ xưa: Những cánh đồng xanh mướt lúa chạy như mút mắt đến chân trời. Những hàng dừa, hàng tre lay lắt trong gió. Những đụn rơm vàng và mấy con trâu, con bò nhẩn nha nhơi cỏ. Và kia, cánh đồng vàng rực lúa đang được những người nông dân gặt rồi đưa vô máy “vọt”. Một khung cảnh hết sức thanh bình. Nó hoàn toàn khác hẳn khung cảnh đã in đậm trong tâm thức anh hồi cất bước ra đi: khung cảnh của một thời chiến tranh ác liệt. Vườn tược, ruộng vườn xơ xác, xóm làng đìu hiu và con đường lổn nhổn đá bốn sáu, đầy ổ gà, mà những chuyến xe đò phải bò qua một cách thận trọng. Bây giờ, cái gì cũng mới, duy chỉ có mấy cây cầu sắt han gỉ là còn nguyên như trong kỷ niệm của anh. Có lẽ những chiếc cầu xài tạm này lớn tuổi hơn anh rất nhiều!... Nhưng, kia rồi, phố chợ hiện ra. Sung sướng! Có lẽ đó là tiếng kêu thầm một cách thống khoái của bất cứ ai khi trở lại quê nhà dù lâu hay mới vừa đây. Và anh càng rộn lòng hơn khi nghe tiếng trống của giàn “tùa lầu cấu” (4) ở chùa rộn vang như thúc giục. Anh hối thằng cháu vọt xe mau để kịp vào coi ông Bổn. Anh và thằng cháu chen chân trong dòng người đen đặc, vào tới sân chùa. Ngôi chùa ngày xưa với anh sao lớn rộng quá, vậy mà bây giờ nhỏ bé làm sao! Mùi khói nhang bay quyện khắp không gian. Tiếng trống làm nhịp cho tiếng chập chõa, tiếng chiêng, tiếng cồng nhỏ hòa trong âm điệu réo rắt của tiếng tiêu khiến anh nôn nao bụng dạ. Bất ngờ, anh gặp một vài người bạn cũ, bây giờ đã là thành viên của ban quản trị chùa. Cả bọn cười thích thú khi anh nhắc lại kỷ niệm cũ của một thời thơ dại xa xưa. Trong câu chuyện, không biết duyên cớ gì, một người bạn chợt dưng khoe thứ trái cây có tên gọi dừa sáp, một thứ trái cây độc đáo mà có lẽ không nơi nào trên đất nước này có được. Với anh, một người “cố cựu” mà dừa sáp vẫn là một sản vật chỉ nghe tên chứ chưa được nếm bao giờ. Nghe vậy, anh bạn nhanh nhảu đưa anh đến một vườn dừa nằm ở ngoại ô thị trấn, khu vực Sóc Kha. Trong bóng mát của những hàng dừa cao nghệu, được trồng hai bên bờ đất giữa hai con mương, anh được ông chủ vườn người Khmer tiếp đón nồng nhiệt, tận tình chỉ dẫn cách phân biệt thứ trái cây có cơm dầy như chiếm hết phần trong gáo dừa, chỉ còn một ít nước sền sệt ở giữa.

- Đây là một thứ nước giải khát tuyệt hảo trong bất cứ thời tiết nào – Lán (5), giáo viên, bạn của con gái ông lão vườn dừa, tình cờ đến chơi, sẵn dịp tiếp khách “phương xa”, “tiếp thị” như vậy.

Rồi bằng động tác nhanh nhẹn, thuần thục, cô và cô bạn vạt vỏ, mở miệng, nạo cơm dừa cho vào máy xay sinh tố cùng với những phụ gia cần thiết. Trong phút chốc, anh đã có ly nước giải khát độc đáo, vừa béo vị dừa, vị sữa vừa ngọt vị đường vừa lạnh các chân răng vì nước đá, thật là sảng khoái! Giữa từng hớp nước dừa sáp đặc sánh, béo ngậy, thơm tho ấy, câu chuyện giữa ông chủ nhà, con gái ông, Lán, bạn anh, và anh càng lúc càng đậm đà đủ thứ chuyện nảy sinh. Nhưng tình cảm càng thắm thiết hơn khi Lán biết anh là dân sinh đẻ ở nơi này và anh biết Lán là cô con gái Hoa lai Khmer, con của một người gia đình anh quen biết, chưa lập gia đình. Cả hai được câu chuyện “dẫn dắt” như có thể xa rời những người đang có mặt. Tiếc rằng cuộc chia tay rồi cũng đến, anh hẹn năm sau sẽ trở lại vào đúng dịp Vu lan này.

Y hẹn, không phải với ông chủ vườn dừa, với Lán, mà vì nghe thằng cháu điện thoại cho hay năm nay có “đánh động” trở lại, sau mấy chục năm tạm ngưng. Vậy là anh điện nhờ bạn dạy thế, khóa cửa nhà (vợ anh mất sớm khi chưa có con), hướng dẫn mấy người bạn thân làm một chuyến du lịch hành hương. Cả bọn phóng xe Honda về đúng ngày “hăm ba vào đám”. Đến nơi vào lúc xế chiều, tắm rửa xong, các bạn anh hối đưa đi vườn dừa để được thưởng thức đặc sản đất giồng mà họ nghe tiếng từ lâu. Vừa bước vào vườn, anh nghe tiếng nói quen quen:

- Về rồi, đúng hẹn quá!

Anh thấy Lán từ trong nhà bước ra, cười tươi, chào. Một niềm vui bất chợt tràn đầy trong tim, anh hào hứng:

 - Chớ sao, đã hứa thì phải giữ lời. Nào, cô giáo trổ tài chặt dừa cho các bạn tôi thưởng thức thứ nước giải khát trứ danh của quê mình.

Chẳng mấy chốc, các bạn anh đã mỗi người có một ly nước dừa sáp trên tay và hân hoan lộ rõ nét mặt khi họ nhấm nháp từng chút hương vị độc đáo ấy.

Anh và Lán hỏi thăm sức khỏe và công việc làm của nhau. Cả hai ngồi dưới bóng mát của giàn cây dạ lý ngan ngát tỏa hương. Câu chuyện như không thể dứt ra được còn nhờ những kỷ niệm ấu thời về những ngày lễ hội này mà họ đã trải qua. Bóng mát của giàn bông, của vườn dừa ngày một đậm màu. Buổi chiều tắt nắng. Không khí lễ hội từ đường phố xa âm vọng đến nghe nôn nao. Trong chốc lát tiếng náo động đó ngày một gần, lớn hơn, mà tiếng của giàn “tùa lầu cấu” là vang động hơn cả. Lán hớn hở giục:
- Mời mọi người đi coi đánh động – rồi cô nghiêng tai nói nhỏ với anh – Từ nhỏ tới giờ em chưa hề được coi đánh động nên nôn nao mấy tháng nay khi nghe nó được diễn lại.
Lán nhanh nhảu hướng dẫn mọi người ra lộ. Cả bọn nối chân theo, quên cả lời chào từ biệt ông lão chủ vườn dừa. Dẫn đầu đoàn người đông kịt chen nhau trên con đường đất cát, là nhà sư Tam Tạng tay cầm thiền trượng ngồi trên lưng ngựa giấy đang từng bước tiến lên. Tề Thiên đại thánh nhảy nhót múa thiết bảng, Trư Bát Giới bụng phệ lệt bệt cầm xà mâu, còn Sa Tăng thì è ạch quảy hành lý theo sau. Bước chân thầy trò nhà sư Đại Đường dừng lại trước một động yêu quái được làm bằng sườn tre cắm đầy lá đủng đỉnh giữa một khoảnh đất trống. Từ trong động, một con yêu mặt mày vằn vện bước ra, hươi vũ khí  tấn công địch thủ. Cuộc chiến diễn ra gay cấn. Trong bóng tối nhá nhem của buổi hoàng hôn, cuộc chiến càng thêm hấp dẫn bởi những đám lửa bay vù vào đối phương từ một chiếc miệng ngậm đầy dầu lửa thổi qua một ngọn đuốc. Trong ánh lửa sáng bùng lên, anh chợt nghe tay mình ấm mềm trong bàn tay ai. Cùng lúc ấy, anh nghe hơi ấm nóng chạy xuyên khắp thân thể và một giọng nói run run đầy hơi ấm phả vào tai mình:

 - Anh giáo! Em sợ! – Lán hổn hển.

Như một phản xạ, bàn tay anh áp lên bàn tay cô đang nắm tay kia của mình. Họ chìm trong cảm giác bồng bềnh của một thứ hạnh phúc không tên giữa tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chập chõa, tiếng tiêu âm vang làm nền cho cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác đang diễn ra trước mặt mọi người. Hai người đi lạc khỏi đám bạn của anh, hòa trôi theo đám rước trên con đường đi Tây Trúc thỉnh kinh của thầy trò Đường tăng. Ở mỗi ngã ba, ngã tư đường, ba đệ tử của Tam Tạng phải ác chiến diệt loài quỷ dữ và ngọn lửa được liên tục thổi bùng. Mỗi lần như thế là một lần anh và Lán như hòa vào nhau trong một trạng thái có lẽ suốt đời cả hai người chẳng thể nào quên!

--------------   

1. Bổn phố: Những người  sống trong thị trấn.
2. Xái pấu: Củ cải muối. 
3.  Sện: Thành, tên gọi theo tiếng Tiều (Triều Châu).   
 4. Tùa lầu cấu: Giàn nhạc người Tiều dùng để phục vụ các lễ hội, đình đám quan trọng.
4. Lán: Lan, tên gọi theo tiếng Tiều.