Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2007

Ý nghĩ trong khi mất điện

Xin cảm ơn sự trở chứng bất thường

Của một đường dây tải điện

Đêm nay

Ở miền viễn tây Nam bộ

Chúng tôi ngồi trong bóng tối mênh mông


Trời đang ngày bỗng chốc hóa đêm

Đen như những giọt cà phê hằn đáy cốc

Cái nồng nã cái nôn nao câu chuyện

Chợt đứt ngang như dòng điện tắt không lời


Tám chúng tôi ngồi mỗi đứa một nơi

Quanh chiếc bàn tròn, trên ghế mình, dĩ nhiên thế

Mỗi người thả tưởng tượng rong chơi một phía

Bất chợt cùng kêu lên khi có ánh trăng soi


Sự bình thường đột ngột đến với chúng tôi

Thông qua đêm mất điện

Ai cũng thấy mình mỗi ngày một mất

Thiên nhiên diệu kỳ và rất bao dung


Xin cảm ơn đêm nay không phải tối ba mươi

Đã treo ngọn đèn đẹp xinh đến thế.

___________
Châu Đốc, 9-2-1987

Bài thơ trên toa thí

 

                   Chẳng hãi hùng vì mìn đặt dưới đường ray

                   Khi bật nổ em là người hy sinh trước

                   Lòng nôn nã đến với đoàn quân xa nước

                   Vũ khí em là cây viết trên tay

 

                   Đâu phải vì em chẳng biết hiểm nguy

                   Khi chân bước lên sàn toa thí

                   Cô gái Việt Nam đương thì rất đẹp

                   Vẫy tay chào tạm biệt Phnom Penh

 

                   Chung với em còn có bao người

                   Áo sặc sỡ cùng màu xà-rông lượt bượt

                   Cụ già nâng ly mời em nếm trước

                   Rượu Chmar Khmau vị quế ấm nồng

 

                   Tàu rú còi rung ngọn thốt nốt cao

                   Gió nồng nã đầu mùa mưa thổi dạt

                   Tay che mắt tay che đầu: nắng gắt

                   Em mỉm cười học tiếng Khmer

 

                   Bên này đồi bên kia núi - vượt qua

                   Bao ga lẻ đón con tàu đi tới

                   Mở căng mắt em nhìn đất đai đổi mới

                   Rừng chồi ơi! Xanh lá tươi mầm.

 

Phsar Roméas, 6-1987


Chia tay không vội

 

                   Tôi đưa em về chiều mưa vội bến sông

                   Ngọn gió vội thổi tàn cây rơi lá vội

                   Mặt đường ướt nhòe vội đen sắc nhựa

                   Người vội qua xe vội vút trong mù

 

                   Mưa vội rơi nặng hạt dài sông

                   Đợt sóng vội đẩy thuyền đi vội

                   Chiều vội tàn. Đèn ai vội sáng

                   Đêm vội về. Lâu. Đã chừng lâu

 

                   Mưa. Cứ mưa. Mưa mãi. Mưa hoài

                   Con đường vắng đôi người vội muộn

                   Em nép sát vào tôi mắt nhìn lơ đãng

                   Trắng một khung trời. Mưa đổ. Vội chi xa.

 

30-6-1988


Chuyện tình

 

                   Đã quen nhau bốn năm rồi

                   Mà sao mỗi đứa một đời riêng tư

                   Em hiền như một lá thư

                   Không lên tiếng - vẫn tiếp thu được lời

 

                   Bữa nay trắng một khung trời

                   Mận nhà em trắng ngõ mời tôi vô

                   Tôi vô – thì cứ tôi vô

                   Làm như thể rất tình cờ gặp nhau

 

                   Lá trầu ăn với miếng cau

                   Năm xưa - cắn chỉ đỏ au môi người

                   Em như cái lá trầu tươi

                   Cắn tôi đến nỗi dập môi – ái tình

 

                   Rất vô tình - rất vô tình

                   Cái ly nước đứng một mình – còn nguyên

                   Tấm lòng nguyên ở con tim

                   Mà sao nó chảy triền miên - mắt nhìn

 

                   Tôi ho đâu phải vô tình

                   (Đến hồi lá phổi bất bình cái môi)

                   Tôi ho là để ho thôi

                   Cho nhà em bớt lẻ loi tiếng người

 

                   Lá thư còn nói nên lời

                   Mà em, tôi - vẫn cứ ngồi trơ trơ

                   Cầu trời cho có cơn mưa

                   Để tôi run với sấm lùa trên không

 

                   Cuối cùng – hà tiện vẫn hơn

                   Trời đâu chịu đổ một cơn mưa dầm

                   Trái tim tôi đập ầm ầm

                   Chắc em nghe rõ khi gần - nắm tay

 

                   Ban đầu tưởng chỉ riêng tôi

                   Run tay là bởi bồi hồi – tay run

                   Bàn tay em – phút cuối cùng

                   Thú nhận hết nỗi lo chung – khác gì!

 

24-8-1988


Câu chuyện “lửa” và “khói”

8-8-2007

Nhà thơ Lê Chí từ bỏ chức giám đốc Nhà xuất bản Cà Mau, về làm cán bộ sáng tác tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cần Thơ. Khoảng đầu năm 1994, một hôm, anh nói với tôi: “Ông làm bản thảo tập thơ đi, tôi biên tập”. Tôi từ chối ngay: “Thôi, tiền đâu in!”. Anh cười trấn an: “Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cần Thơ in”. Chần chừ rồi tôi cũng bị anh thuyết phục. Tập thơ đầu tay “Thơ tình tuổi bốn mươi” của tôi in có nhiều sai sót, nhiều năm qua tôi muốn in tập khác theo sự đôn đốc của bạn bè. Tôi đã chọn cho tập thơ này cái tên: “Buồn sống”. “Buồn” ở đây có nghĩa là “mắc”, “muốn”, “ham”, như “buồn ngủ”… Cái tên này, theo tôi, quá đã…nhưng không có tiền in. Buồn ngủ gặp chiếu manh, vậy là tôi gom thơ lại, đưa anh Lê Chí với tên tập thơ là “Vòng quay”, ý nói cuộc sống như một vòng quay đối với con người. Tên này dễ chấp nhận hơn tên “Buồn sống” nhiều khiêu khích, có thể bị hội “ách” lại.

Lâu lâu, gặp nhau, tôi hỏi hoặc tự ý anh Lê Chí cho biết tập thơ đang được duyệt…

Một hôm, anh Lê Chí hớt hải báo hung tin: “Chết rồi, tập thơ ông bị đánh tơi tả, cho là bôi đen chế độ, ở tù như chơi”. Rồi anh lấy bản viết tay trên hai mặt giấy nhận xét về tập thơ này (xin xem bản photo) mà anh bí mật lấy được đem photocopy. Đọc xong, tôi hoảng kinh hồn vía. Anh Lê Chí nói không biết nét chữ của ai, có thể của một tay nào đó ở Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Găng lắm! Tôi than: “Cũng tại ông!”. Anh Lê Chí bèn hiến kế: “Để cứu nguy, ông phải cho in gấp tập thơ này, không được bỏ một bài nào, không được sửa một câu, một chữ”. Trong đầu tôi liền nghĩ đến nhà thơ Nguyễn Liên Châu và nhà văn Nguyễn Đình Bổn. Hai ông bạn thân của tôi đang làm dịch vụ in sách ở Sài Gòn. Nhẹ cả người, tôi nói xuôi xị: “Được. Nhưng căng nhứt là tiền”.


Lỡ “phóng lao”, tôi phải “theo lao”, đem bản thảo lên Sài Gòn, vô con hẻm 220 đường Lê Văn Sĩ, quận 3, gặp và nhờ Nguyễn Liên Châu nhờ xin giấy phép ở Nhà xuất bản Đồng Nai với điều kiện gắt gao ấy. Không thèm đọc bản thảo tập thơ, bạn vàng Nguyễn Liên Châu cười mỉm: “Chuyện nhỏ”, rồi bảo cứ yên tâm, đừng lo tiền bạc, sẽ tính sau. Tập thơ được lấy tên “Ngọn khói”, vì “khói” này “phải” có do “lửa” từ nhận xét “có thể vô tù” ấy. Tôi gặp nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm ở 21, Hưng Phú, phường 8, quận 8, TPHCM, nói chuyện này. Anh và nhà thơ Trần Hữu Dũng gợi ý nhờ họa sĩ Chóe vẽ chân dung cho thêm phần “bề thế”. Ông Chóe ô kê cái rụp. Thêm vào, tôi đã có sẵn chân dung do Lê Thánh Thư vẽ. Lần lên Sài Gòn đó, anh Nghiễm rủ tôi lên nhà nhà thơ Phạm Nhã Dự ở Bà Điểm nhậu. Biết tên Phạm Nhã Dự trước 1975 nên tôi vui vẻ nhận lời. Đi cùng còn có Trần Hữu Dũng, Lê Thánh Thư và một vài bạn bè mà tôi không nhớ được. Đang nhậu rượu thuốc, Lê Thánh Thư nổi hứng bảo chúng tôi lần lượt làm mẫu cho anh vẽ chân dung. Anh Nghiễm đùa: “Nó mà vẽ cái gì”. Bởi, Lê Thánh Thư tới lúc đó chỉ toàn làm thơ, có học qua hội họa với ai, trường lớp nào đâu. Cùng xỉn xỉn, chúng tôi lẳng lặng ngồi yên cho Thư vẽ chân dung mình. Thật bất ngờ, trong số chân dung do Thư vẽ ấy chỉ có bức vẽ tôi là “xuất thần” hơn cả. Ai cũng khen. Và tôi quý nó như vàng, giữ kín đến đỗi mới tìm thấy ngày hôm qua (7-8-2008) trong đống sách vở bề bộn của mình (còn bức họa sĩ Chóe vẽ thì biệt tăm!). Sau này, Lê Thánh Thư đoạt giải môi trường của ASEAN cách đây khoảng chục năm và trở thành họa sĩ thứ thiệt, sống giàu. Bìa thì nhờ họa sĩ Lưu Nhữ Thụy, bạn thân, đã từng làm bìa tập “Thơ tình tuổi bốn mươi” cho tôi, rất đẹp. Để tăng thêm phần trang trọng cho tập thơ, Nguyễn Liên Châu nhờ các họa sĩ Nguyễn Bá Văn, Đỗ Trung Quân và Nguyễn Thúy Bắc vẽ phụ bản…


Tập thơ nằm “nhà in”, tôi rầu rĩ vì tiền. May mắn mỉm cười với tôi khi Tuổi Trẻ Chủ Nhật (số 41-94 (572) năm thứ 12, ngày 16-10-1994) đăng truyện ngắn “Bọ rầy” của tôi. Anh Lê Chí đọc, mừng rỡ nói “nó cứu ông đó”, bởi truyện này đậm đà bản sắc dân tộc, mấy ông tuyên giáo có lẽ sẽ lờ vụ kia. Tôi còn mừng hơn vì truyện ngắn đăng ở báo này nhuận bút “đậm” lắm, vì tôi đã nhận với truyện ngắn “Đảo mộng” và “Sợi dây” (ký tên Lữ Thị Tường Vy) vào năm 1991...

Tập thơ in xong vào tháng 1-1995, cả tôi và nhà thơ Lê Chí thở hắt ra. Tôi chỉ phải lo một triệu rưỡi đồng tiền in vì người bạn chí cốt Nguyễn Liên Châu đã hào hiệp chịu một nửa. Tôi “khỏe” vì có sẵn nhuận bút truyện ngắn “Bọ rầy”…

Mãi về sau này, “điệp viên” Lê Chí mới biết và tiết lộ người viết nhận xét không ký tên ấy không phải ông tuyên huấn nào mà là nhạc sĩ Cửu Long, lúc đó đang làm thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cần Thơ. Tôi bèn nhớ ngay và biết rằng mình đã phạm phải một sai lầm “chết người”.

Hồi đó, tôi làm thường trực Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Cần Thơ (số 4, Lý Tự Trọng), thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cần Thơ (số 170, Lý Tự Trọng). Tuy cùng “chức” với nhạc sĩ Cửu Long nhưng tôi nhỏ “quyền” hơn. Một hôm Cửu Long “xuống” hội “cấp dưới”, đề nghị với tôi: “Ông cho mấy bài thơ tình để tôi phổ nhạc”. Vốn biết tài năng nhạc sĩ cấp quốc gia này nên tôi từ chối không mấy “khéo”: “Trời đất, tôi có thơ đâu, làm xong bài nào là tôi chùi… hết, lo làm bài mới”. “Ngọn khói” bắt nguồn cho “ngọn lửa”. Có “lửa” mới có “khói”, là vậy!



Tôi không muốn kể lại chuyện này, nhưng có nhiều người thắc mắc tên tập thơ kỳ quá, đành phải “thú thiệt”. Rất mong hồn nhạc sĩ Cửu Long (mới mất năm 2006) ở đâu đó đánh cho tôi hai chữ “đại xá”. Vô vàn biết ơn!