Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Về cội




Gần ba chục năm anh mới có chuyến trở về Cầu Kè (Trà Vinh). Chuyến đi nhân người cháu lên Cần Thơ chơi, vui miệng cho biết Vu lan thắng hội ở chùa ông Bổn mấy năm rồi vui lắm.
- Ngày mốt bắt đầu vào lễ – Nó nhấn mạnh.

Trong anh thức dậy ngay bao kỷ niệm xưa cũ về nơi chôn nhau cắt rún của mình, một thị trấn vùng sâu vùng xa của tỉnh Trà Vinh chẳng có gì vui ngoài lễ hội độc đáo của đồng bào Tiều định cư tại đây hàng mấy trăm năm qua. Anh lẩm nhẩm câu hát:

Hăm lăm vào đám
Hăm tám ra giàn


Rồi nhớ tới những bội tre nhỏ mà năm nào nhà chùa cũng đem tới từng nhà cho bổn phố (1) nhận lãnh, đặt lễ vật vào trước khi đem cúng chùa trong ngày hăm bảy tháng bảy âm lịch. Còn từ ngày hăm lăm thì bao nhiêu chuyện cúng kiếng, tụng niệm diễn ra liên tục suốt ngày đêm do các nhà sư ở chùa Phật, chùa Khmer trong thị trấn chủ trì. Những ngày, những đêm đó, bọn trẻ các anh thường la cà suốt, rình khi người lớn sơ ý là nhanh tay chộp một nắm hột dưa, bánh in, bánh men để trong dĩa đặt trên bàn nước, chạy nhanh ra nơi nào đó túm tụm lại ăn, cười đùa hỉ hả. Lớn hơn một chút, cũng với cách ấy, bọn anh còn lấy cả thuốc Bastos hoặc Mélia rồi vừa ăn bánh kẹo vừa phì phà khói thuốc một cách khoái trá vì cho rằng (một cách tại hại) mình đã là người lớn rồi! Nhưng khoái nhất là khi đói bọn anh được ăn một bụng cháo trắng với xái pấu (2) ngâm giấm đường. Cái thứ cháo trắng nóng hổi, bốc hơi nghi ngút như có lửa trong đó, vậy mà thằng Sến (3) húp một cái rột là hết ngay. Mấy đứa còn lại dở hơn, nhấm nháp từng muỗng, nhờ vậy mới được thưởng thức cái hương vị tuyệt trần của một thức ăn hèn mọn là những lát xái pấu vừa mặn vừa ngọt vừa chua kích thích dịch vị, làm đậm đà khẩu vị, rất hòa hợp với thứ cháo trắng hạt gạo được nấu nở bung. Càng ăn càng mê, no phình bụng hồi nào không biết. Lệ chùa thường dọn sẵn trên bàn những dĩa xái pấu ngâm giấm ấy, bất cứ lúc nào trong những ngày lễ này, khách, bất kể người lớn hay con nít, cũng đều được đãi một bữa no nê. Nhưng đáng nhớ với bọn anh có lẽ là ngày “hăm tám ra giàn”. Sau khi cúng tất, nhà chùa cho người lên một giàn cao dựng sẵn ở sân vận động, cầm từng nắm thẻ tre ném rải khắp xung quanh. Người lớn và cả trẻ con huyên náo chen nhau giành giật từng chiếc thẻ một để rồi sung sướng vô chùa nhận bội đồ cúng của bổn phố. Mỗi thẻ tre được nhận một bội đồ. Mỗi bội đựng một thứ đồ cúng khác nhau: gạo, muối, mía, chuối, khoai… Nhận những bội đồ ăn ấy đem về nhà cũng là lúc những ngày vui trong năm của huyện lỵ nghèo này chấm dứt. Bọn anh trở lại với việc học hành cùng những trò chơi thôn dã.

Bây giờ trở lại mảnh đất quê nhà, lòng anh bồi hồi khôn xiết, vì anh đi biệt từ khi mới mười tuổi đầu. Đứa cháu chở anh trên chiếc Dream phóng như bay trên con đường tráng nhựa phẳng phiu. Cảnh quan hai bên đường thật đẹp, còn đậm bản sắc một nông thôn Nam bộ xưa: Những cánh đồng xanh mướt lúa chạy như mút mắt đến chân trời. Những hàng dừa, hàng tre lay lắt trong gió. Những đụn rơm vàng và mấy con trâu, con bò nhẩn nha nhơi cỏ. Và kia, cánh đồng vàng rực lúa đang được những người nông dân gặt rồi đưa vô máy “vọt”. Một khung cảnh hết sức thanh bình. Nó hoàn toàn khác hẳn khung cảnh đã in đậm trong tâm thức anh hồi cất bước ra đi: khung cảnh của một thời chiến tranh ác liệt. Vườn tược, ruộng vườn xơ xác, xóm làng đìu hiu và con đường lổn nhổn đá bốn sáu, đầy ổ gà, mà những chuyến xe đò phải bò qua một cách thận trọng. Bây giờ, cái gì cũng mới, duy chỉ có mấy cây cầu sắt han gỉ là còn nguyên như trong kỷ niệm của anh. Có lẽ những chiếc cầu xài tạm này lớn tuổi hơn anh rất nhiều!... Nhưng, kia rồi, phố chợ hiện ra. Sung sướng! Có lẽ đó là tiếng kêu thầm một cách thống khoái của bất cứ ai khi trở lại quê nhà dù lâu hay mới vừa đây. Và anh càng rộn lòng hơn khi nghe tiếng trống của giàn “tùa lầu cấu” (4) ở chùa rộn vang như thúc giục. Anh hối thằng cháu vọt xe mau để kịp vào coi ông Bổn. Anh và thằng cháu chen chân trong dòng người đen đặc, vào tới sân chùa. Ngôi chùa ngày xưa với anh sao lớn rộng quá, vậy mà bây giờ nhỏ bé làm sao! Mùi khói nhang bay quyện khắp không gian. Tiếng trống làm nhịp cho tiếng chập chõa, tiếng chiêng, tiếng cồng nhỏ hòa trong âm điệu réo rắt của tiếng tiêu khiến anh nôn nao bụng dạ. Bất ngờ, anh gặp một vài người bạn cũ, bây giờ đã là thành viên của ban quản trị chùa. Cả bọn cười thích thú khi anh nhắc lại kỷ niệm cũ của một thời thơ dại xa xưa. Trong câu chuyện, không biết duyên cớ gì, một người bạn chợt dưng khoe thứ trái cây có tên gọi dừa sáp, một thứ trái cây độc đáo mà có lẽ không nơi nào trên đất nước này có được. Với anh, một người “cố cựu” mà dừa sáp vẫn là một sản vật chỉ nghe tên chứ chưa được nếm bao giờ. Nghe vậy, anh bạn nhanh nhảu đưa anh đến một vườn dừa nằm ở ngoại ô thị trấn, khu vực Sóc Kha. Trong bóng mát của những hàng dừa cao nghệu, được trồng hai bên bờ đất giữa hai con mương, anh được ông chủ vườn người Khmer tiếp đón nồng nhiệt, tận tình chỉ dẫn cách phân biệt thứ trái cây có cơm dầy như chiếm hết phần trong gáo dừa, chỉ còn một ít nước sền sệt ở giữa.

- Đây là một thứ nước giải khát tuyệt hảo trong bất cứ thời tiết nào – Lán (5), giáo viên, bạn của con gái ông lão vườn dừa, tình cờ đến chơi, sẵn dịp tiếp khách “phương xa”, “tiếp thị” như vậy.

Rồi bằng động tác nhanh nhẹn, thuần thục, cô và cô bạn vạt vỏ, mở miệng, nạo cơm dừa cho vào máy xay sinh tố cùng với những phụ gia cần thiết. Trong phút chốc, anh đã có ly nước giải khát độc đáo, vừa béo vị dừa, vị sữa vừa ngọt vị đường vừa lạnh các chân răng vì nước đá, thật là sảng khoái! Giữa từng hớp nước dừa sáp đặc sánh, béo ngậy, thơm tho ấy, câu chuyện giữa ông chủ nhà, con gái ông, Lán, bạn anh, và anh càng lúc càng đậm đà đủ thứ chuyện nảy sinh. Nhưng tình cảm càng thắm thiết hơn khi Lán biết anh là dân sinh đẻ ở nơi này và anh biết Lán là cô con gái Hoa lai Khmer, con của một người gia đình anh quen biết, chưa lập gia đình. Cả hai được câu chuyện “dẫn dắt” như có thể xa rời những người đang có mặt. Tiếc rằng cuộc chia tay rồi cũng đến, anh hẹn năm sau sẽ trở lại vào đúng dịp Vu lan này.

Y hẹn, không phải với ông chủ vườn dừa, với Lán, mà vì nghe thằng cháu điện thoại cho hay năm nay có “đánh động” trở lại, sau mấy chục năm tạm ngưng. Vậy là anh điện nhờ bạn dạy thế, khóa cửa nhà (vợ anh mất sớm khi chưa có con), hướng dẫn mấy người bạn thân làm một chuyến du lịch hành hương. Cả bọn phóng xe Honda về đúng ngày “hăm ba vào đám”. Đến nơi vào lúc xế chiều, tắm rửa xong, các bạn anh hối đưa đi vườn dừa để được thưởng thức đặc sản đất giồng mà họ nghe tiếng từ lâu. Vừa bước vào vườn, anh nghe tiếng nói quen quen:

- Về rồi, đúng hẹn quá!

Anh thấy Lán từ trong nhà bước ra, cười tươi, chào. Một niềm vui bất chợt tràn đầy trong tim, anh hào hứng:

 - Chớ sao, đã hứa thì phải giữ lời. Nào, cô giáo trổ tài chặt dừa cho các bạn tôi thưởng thức thứ nước giải khát trứ danh của quê mình.

Chẳng mấy chốc, các bạn anh đã mỗi người có một ly nước dừa sáp trên tay và hân hoan lộ rõ nét mặt khi họ nhấm nháp từng chút hương vị độc đáo ấy.

Anh và Lán hỏi thăm sức khỏe và công việc làm của nhau. Cả hai ngồi dưới bóng mát của giàn cây dạ lý ngan ngát tỏa hương. Câu chuyện như không thể dứt ra được còn nhờ những kỷ niệm ấu thời về những ngày lễ hội này mà họ đã trải qua. Bóng mát của giàn bông, của vườn dừa ngày một đậm màu. Buổi chiều tắt nắng. Không khí lễ hội từ đường phố xa âm vọng đến nghe nôn nao. Trong chốc lát tiếng náo động đó ngày một gần, lớn hơn, mà tiếng của giàn “tùa lầu cấu” là vang động hơn cả. Lán hớn hở giục:
- Mời mọi người đi coi đánh động – rồi cô nghiêng tai nói nhỏ với anh – Từ nhỏ tới giờ em chưa hề được coi đánh động nên nôn nao mấy tháng nay khi nghe nó được diễn lại.
Lán nhanh nhảu hướng dẫn mọi người ra lộ. Cả bọn nối chân theo, quên cả lời chào từ biệt ông lão chủ vườn dừa. Dẫn đầu đoàn người đông kịt chen nhau trên con đường đất cát, là nhà sư Tam Tạng tay cầm thiền trượng ngồi trên lưng ngựa giấy đang từng bước tiến lên. Tề Thiên đại thánh nhảy nhót múa thiết bảng, Trư Bát Giới bụng phệ lệt bệt cầm xà mâu, còn Sa Tăng thì è ạch quảy hành lý theo sau. Bước chân thầy trò nhà sư Đại Đường dừng lại trước một động yêu quái được làm bằng sườn tre cắm đầy lá đủng đỉnh giữa một khoảnh đất trống. Từ trong động, một con yêu mặt mày vằn vện bước ra, hươi vũ khí  tấn công địch thủ. Cuộc chiến diễn ra gay cấn. Trong bóng tối nhá nhem của buổi hoàng hôn, cuộc chiến càng thêm hấp dẫn bởi những đám lửa bay vù vào đối phương từ một chiếc miệng ngậm đầy dầu lửa thổi qua một ngọn đuốc. Trong ánh lửa sáng bùng lên, anh chợt nghe tay mình ấm mềm trong bàn tay ai. Cùng lúc ấy, anh nghe hơi ấm nóng chạy xuyên khắp thân thể và một giọng nói run run đầy hơi ấm phả vào tai mình:

 - Anh giáo! Em sợ! – Lán hổn hển.

Như một phản xạ, bàn tay anh áp lên bàn tay cô đang nắm tay kia của mình. Họ chìm trong cảm giác bồng bềnh của một thứ hạnh phúc không tên giữa tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chập chõa, tiếng tiêu âm vang làm nền cho cuộc chiến đấu giữa cái thiện và cái ác đang diễn ra trước mặt mọi người. Hai người đi lạc khỏi đám bạn của anh, hòa trôi theo đám rước trên con đường đi Tây Trúc thỉnh kinh của thầy trò Đường tăng. Ở mỗi ngã ba, ngã tư đường, ba đệ tử của Tam Tạng phải ác chiến diệt loài quỷ dữ và ngọn lửa được liên tục thổi bùng. Mỗi lần như thế là một lần anh và Lán như hòa vào nhau trong một trạng thái có lẽ suốt đời cả hai người chẳng thể nào quên!

--------------   

1. Bổn phố: Những người  sống trong thị trấn.
2. Xái pấu: Củ cải muối. 
3.  Sện: Thành, tên gọi theo tiếng Tiều (Triều Châu).   
 4. Tùa lầu cấu: Giàn nhạc người Tiều dùng để phục vụ các lễ hội, đình đám quan trọng.
4. Lán: Lan, tên gọi theo tiếng Tiều.

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Cung đàn xanh - Lời ru con sáo nhỏ

Nhạc: Đắc Lợi - Thơ: Phù Sa Lộc


Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Chiêc nón

Bài hát: Chiếc Nón - Thơ Phù Sa Lộc, nhạc Đắc Lợi, ca sĩ Hải Đăng


Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Nón lá mùa xuân




Thơ: Phù Sa Lộc
Nhạc: Hồ Hoàng

Click vào hình để có ảnh phóng lớn

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Lên đỉnh Tà Lơn

Tà Lơn tiếng Anh là Elephant Mountains. Đỉnh cao là Phnom Bokor, tức Tà Lơn theo cách gọi của người Việt. Đây là nơi các đạo sĩ nước ta thường lên tu tập, Đáng chú ý là các vị Nguyễn Thành Đa (Cử Đa, đạo hiệu Ngọc Thanh), Huỳnh Phú Sổ (Giáo chủ đạo Hòa Hảo), Ngô Văn Chiêu (Khai sáng một nhánh đạo Cao Đài)…

Con đường từ chân dãy Elephant Mountains lên đến đỉnh Bokor dài 34km, qua những tán cây xanh mướt hai bên đường. Các cây bá tùng thấp nhỏ, gân guốc như một thuật sĩ tu luyện lâu năm với lá của cây bách và cây tùng trên cùng một thân cây. Thấp hơn là địa lan và cây nắp nước cùng những ngọn cỏ lá mảnh và nhọn. Con đường quanh co, uốn lượn qua ba ngọn núi của dãy Elephant Mountains rộng lớn, phẳng lì nên khách thượng sơn chỉ mỗi việc mê mắt ngoạn cảnh.



Du khách và khách hành hương viếng tượng bà Mau trên đỉnh Bokor.


Tà Lơn huyền bí

Tà Lơn (Bokor, Kampot, Campuchia) là đỉnh cao nhất của dãy Elephant Mountains, 1.079m. Nơi đây có vô số khối đá bị nước biển ăn mòn với vỏ sò dính trên đó; cát trắng mịn nên người ta cho rằng hàng triệu năm trước Tà Lơn nằm sâu đáy biển. Một tác động nào đó khiến nó vươn mình lên cao khỏi mặt đất như ngày nay với biết bao huyền bí. Thời xa xưa đó, Tà Lơn được nhà văn Sơn Nam diễn tả trong tác phẩm”Thơ núi Tà Lơn” bằng bài vè mà ông ghi chép, có đoạn như sau: “…Xứ hiểm địa chim kêu vượn hú/Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan/Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn/Nhìn trên suối sấu nằm dư khúc/…/Loại thú cầm trông thấy chỉnh ghê/Giống chằn tinh lai vãng dựa xó hè/Con gấu ngựa tới lui gần xó vách/Bầy chồn cáo đua nhau lúc nhúc/Lũ heo rừng chạy giỡn bát loạn thiên/Trên chót núi nai đi nối gót/Cặp dã nhân kêu tiếng rảnh rang/Ngó sau lưng con kỳ lân mặt đỏ như vàng/Nhìn phía trước ông voi đen huyền như hổ/Hướng đông bắc con công tố hộ/Cõi tây nam gà rừng gáy ó o…”. Thật là một quang cảnh rợn người, duy nhất là nơi một số người Việt đầu thế kỷ 20 chọn làm nơi tu luyện. 


Phong cảnh ngoạn mục nơi chùa Năm Thuyền làm say đắm du khách.
 Với người Campuchia, theo truyền thuyết, Bokor được cai quản bởi một vị nữ thần tên Ya Mao (Veang Kh’mau hay Diay Mao, người Việt gọi bà Mau, dì Mau). Có hai truyền thuyết về Ya Mao: Ya Mao là một phụ nữ ở một làng thuộc khu vực Ream. Chồng bà đi làm ở Koh Kong. Vào một mùa mưa, người phụ nữ đi tìm chồng rồi bị bão chìm thuyền. Bà hiển linh, báo mộng cho dân chúng ở phía nam, bảo vệ ngư dân, dạy bảo mọi người sống tốt đẹp. Đôi khi bà cũng yêu cầu người dân cúng một biểu tượng Linga. Thuyết khác, Ya Mao giận những người đàn ông vì bắt chồng đi xa nên bà bắt đàn ông trong vùng phục vụ. Năm tháng qua đi, nghĩ rằng bà không còn sức nữa nên người ta cúng chuối... Tượng bà Mau trên đỉnh Bokor, do ông Sok Kong cho dựng. Tượng cao 22m trên bệ 15m, trên diện tích khoảng 1.500m2, vào tháng 2-2012, dưới Quốc lộ 3 có thể nhìn thấy trong ngày quang mây. Ngoài việc cúng chuối, người dân cùng dựng tượng linga để thờ. Hiện nay, trước mặt tượng bà Mau trên đỉnh Bokor mịt mù mây khói, về phía trái, gần biệt điện hoang phế của Sihanouk còn có tượng linga rêu phong theo năm tháng.

Khách tham quan casino trong khu phức hợp Thansur Bokor.

Vòng vèo qua những đỉnh núi nhiều trảng trống xe dừng lại bên dưới chùa Năm Thuyền (Wat Sampov Pram), là nơi cũng thu hút rất đông người đến cúng viếng. Chùa Năm Thuyền được xây dựng vào năm 1924 bởi vua Monivong, mang phong cách đặc trưng Khmer với thần Chim Garuda trên các cột chống. Chánh điện có những bức bích họa phật tích tuyệt đẹp có tuổi thọ 90 năm. Đối diện chùa có bốn tảng đá nằm song song, đằng sau có tảng đá khác cùng hướng về một phía. Tất cả giống như năm chiếc thuyền. Vì vậy chùa có tên Năm Thuyền. Theo truyền thuyết, ngày xưa, Hoàng tử Preah Thong vâng lệnh vua cha nhường ngôi cho em. Trong khi du ngoạn, chàng gặp nàng Nagani (Công chúa thủy tề) xinh đẹp. Họ yêu nhau rồi kết thành gia thất. Long vương tặng vợ chồng chàng 5 chiếc thuyền buồm khổng lồ chứa đầy châu báu làm của hồi môn, cùng 500 gia nhân. Họ dong thuyền và xây dựng vương quốc mới và chàng được xem như cha đẻ nền văn minh Khmer. “Thương hải biến vi tang điền”, nước biển rút đi, mặt đất trồi lên cao, 5 chiếc thuyền buồm biến thành đá như hiện trạng. 

Phía sau chùa Năm Thuyền là khu đất cỏ mọc rậm với nền nhà hoang phế. Từ đây, nhìn thẳng là vực biển xanh mờ, ẩn hiện xa xa trong trời mây là đảo Phú Quốc của nước ta. Nhìn sang phải, nơi mỏm đất nhô ra có ngôi chùa Khmer mới xây vàng chóe với tượng Phật cao to in nền trời. Từng đợt, từng đợt mây mù trắng đục từ vực biển trào lên như tấm voan lãng mạn và thơ mộng phất nhẹ qua đời. 


Từ chùa Năm Thuyền theo đường Nắp Ấm hiểm trở với nhiều tảng đá hình thù kỳ quái là đến khu vực đậm chất huyền bí của Tà Lơn đối với người Việt, là nơi có các điện: Tứ Giao, Minh Châu, Trung Tòa, Lan Thiên, Bình Thiên, Bàn Ngự, Hàm Long, Cán Dù…- nơi các vị tổ của Huyền môn, các vị giáo chủ bản địa Việt Nam chọn tu luyện, cũng là nơi các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đến tĩnh tọa, tham thiền.



Công viên quốc gia Bokor

Phong cảnh Bokor hoang vu, mát mẻ, có chỗ lạnh như xứ ôn đới, nên giới quý tộc Pháp cai trị đất nước Campuchia chọn làm nơi nghỉ dưỡng.Từ năm 1925, họ xây dựng nhà thờ, trường học, bưu điện, biệt thự, khách sạn cao cấp, casino… với tên gọi Bokor Hill Station, công nhận Bokor là Công viên quốc gia. Người Pháp lên đây tiệc tùng. Người Trung Quốc lên đánh bạc. Rất nhiều người thua cháy túi nhảy xuống vách đá phía sau casino. Thập niên 1950 – 1960, vua Sihanouk, hoàng tộc và giới tài phiệt Campuchia chọn nơi đây làm nơi nghỉ dưỡng, thư giãn. Thời hoàng kim của Bokor rồi cũng qua đi, tất cả các công trình đồ sộ đều hoang phế đến đỗi người ta gọi nó là “Thành phố ma”. Song, cái vẻ hoang tàn, kỳ bí ấy đã khiến các nhà làm phim chọn làm bối cảnh quay hai bộ phim “City Of Ghost” (2002) và “R-Point” (2004). 


Khách tham quan nào cũng thích có tấm ảnh kỷ niệm nơi phái sau lưng, bên trái, xa xa là đảo Phú Quốc (Việt Nam).

Đối lập với “nơi kỳ lạ nhất thế giới”, ngày nay Bokor là một phần của Công viên quốc gia Preah Monivong (1993), có khu giải trí nghĩ dưỡng phức hợp đang hình thành là Thansur Bokor, mang phong cách Khmer hiện. Quy mô khu nghỉ dưỡng rộng trên 60.000m2, trên độ cao 1.079m, với hơn 412 phòng nghỉ tiêu chuẩn và cao cấp; khu ẩm thực phong phú với tổ hợp 12 nhà hàng; khu giải trí quốc tế với các trò chơi đa dạng, không gian hội nghị, phòng tiệc rộng lớn, nhà hát tân kỳ sức chứa hơn 6.000 người; khu giải trí sang trọng với các phòng KTV, disco được thiết kế đặc biệt; khu spa đẳng cấp kết nối phòng tập thể hình, hồ bơi hiện đại; sân golf 18 lỗ được thiết kế bởi golf thủ lừng danh, Arnold Palmer; khu giải trí giáo dục trẻ em rộng trên 200m2… Thansur Bokor do tập đoàn Sokha thực hiện. Sokha là con gái tỉ phú đô la Sokkong, người sinh ra tại Prey Veng (Campuchia) nhưng có cha mẹ gốc Việt. Khởi nghiệp với 1,5 chỉ vàng, Sokkong giờ làm chủ nhiều ngành nghề trên đất Campuchia và Việt Nam. Ông là người Việt duy nhất được Quốc vương Sihanouk ban tặng tước hiệu Oknha (Công tước) vì những cống hiến cho xã hội… 

 
Chùa Năm Thuyền cổ kính

Con đường lên núi khi mới mở phải tốn 5 đô la Mỹ mới được vào, nay không còn nữa. Công viên quốc gia Bokor có nhiều thú hoang dã, các loài chim quý hiếm. Bokor là ngọn núi có thể nói đẹp nhất đất Chùa Tháp. Vào mùa mưa, trên lưng chừng núi dầy đặc sương mù, có khi cách 1m không nhìn thấy nhau. Đến với Bokor là đến với huyền thoại đậm chất dân gian và hiện thực sinh động đang dần biến nó thành nơi du lịch sinh thái hấp dẫn nhất Campuchia.

-----------