Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

“Xái pấu Chịt Sa”


Từ nhiều năm nay, địa phương nào thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long mở hội chợ thì nơi đó có sự hiện diện của “Xái pấu Chịt Sa”. Và, một khi “tiếp cận” với “xái pấu Chịt Sa” rồi, thì y như rằng người ta bị nó “hớp hồn”. Bởi, ngoài bao bì đẹp, rút chân không, “xái pấu Chịt Sa” còn hấp dẫn người thưởng thức do vị mặn vừa phải, độ giòn, thơm không loại “xái pấu” nào có được. Ửu điểm khác là “xái pấu Chịt Sa” dù chưa chế biến thành món ăn cũng đã tỏa ra một mùi thơm đặc trưng cuốn hút. Chính cái mùi nầy đã giúp những củ “xái pấu Chịt Sa” lan tỏa đến nhiều nơi trong khu vực, hơn thề nữa, đã đi ra một số nước trên thế giới.


Bịch củ cải muối hút chân không


Nhãn hiệu “Xái pấu Chịt Sa”

“Xái pấu” là gọi theo tiếng Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc), người Việt gọi “củ cải muối”. Gọi củ cải muối vì đây là loại thực phẩm được làm một cách đơn giản bằng cách “muối” củ cải trắng với muối hột. Chỉ có vậy nhưng đâu phải ai làm cũng đều cho ra một thứ củ cải muối ngon như “xái pấu Chịt Sa”.

Để có những củ “xái pấu” “tuyệt hảo” như vậy là do công của Chịt Sa (có nghĩa là chú Ba). Năm 1947, Trung Quốc lâm vào cảnh chiến tranh ác liệt. Người giàu còn khổ huống hồ kẻ nghèo như chịt Sa, nên ông phải khăn gói lên đường sang Việt Nam tìm đất sống. Chịt Sa chọn Giồng Lớn (Trà Kháo, Cầu Kè, Cần Thơ - nay thuộc tỉnh Trà Vinh) làm nơi định cư vì có người anh thứ tư sang đây từ lúc nhà Thanh lật đổ nhà Minh lên cai trị đất nước này. Là mảnh đất giồng nên Trà Kháo rất phù hợp với tập quán làm rẫy của người Tiều như chịt Sa. Một năm, gần Tết, củ cải trắng rộ, bán không hết, còn dư khá nhiều, chịt Sa bèn nghĩ đến việc làm “xái pấu” – một thức ăn dân dã, ngon mà người Hoa ưa dùng, lại để được rất lâu ngày, càng lâu càng ngon. Vậy là ông bắt tay thực hiện.
Công thức biến củ cải trắng thành “xái pấu” là trộn với muối hột ủ trong vòng 7 ngày. Đơn giản là vậy, nhưng càng ngày chịt Sa càng ngẫm nghĩ cách cải tiến để “xái pấu” của mình thơm và ngon hơn “xái pấu” của những người khác. Nhờ vậy mà nó đã thu phục cảm tình của những người sành ăn nơi mảnh đất vùng sâu vùng xa của tỉnh Trà Vinh này.


Ông Vương Tiển Khanh

Chịt Sa qua đời, ông Vương Tiển Khanh (năm nay 50 tuổi) nối nghiệp. Từ nhỏ Tiển Khanh đã chăm chỉ phụ cha trong công việc sinh nhai nên học được thủ thuật làm những củ “xái pấu” ngon nổi tiếng của cha. Theo Tiển Khanh, để “xái pấu” được như vậy, phải trải qua nhiều công đoạn công phu. Đầu tiên mua củ cải trắng loại nhứt về, loại bỏ những củ mập xốp, khuyết tật, sâu bịnh…, cắt bỏ lá, đem phơi. Sân phơi tráng xi măng ở nơi có nhiều ánh nắng, trải lớp rơm lúa mùa (loại rơm sạch nhứt) rồi phủ lưới, sau đó trải đều củ cải trắng lên. Sáng phơi, chiều tối trộn cải với muối hột Bạc Liêu rồi ủ trong cống xi măng lót nylon, đậy kín miệng cũng bằng nylon. Sáng hôm sau móc cải ra rửa cải sạch bằng nước muối đọng trên lớp nylon đáy cống rồi đem phơi. Làm như vậy trong 7 ngày là đã có” xái pấu”. Khoảng 7kg cải tươi cho 1kg “xái pấu”. Để đưa ra thị trường, ông bỏ những củ ăn muối không đều. Còn lại, ông cắt bỏ đầu và đuôi, ủ trong kiệu đậy kín nắp, bán dần. Tiển Khanh cho biết, công đoạn làm “xái pấu” tưởng đơn giản nhưng thật ra đòi hỏi bản lĩnh ở chỗ “đi muối”. “Đi” không đúng muối coi như công cóc! “Xái pấu” rất kỵ nước, dính nước sẽ hư thúi.
Nối nghiệp cha, Tiển Khanh không thể khoanh tay ngồi hưởng thụ. Ông muốn xái pấu của mình phải ngày một thơm ngon hơn, phát triển hơn, không chỉ trong phạm vi thị trấn Cầu Kè và một số người ở Trà Vinh biết tiếng, như “gia sản” cha để lại. Vậy là ông tiến hành làm đơn gởi Cục Sở hữu trí tuệ để được công nhận danh hiệu “Chịt Sa củ cải muối đặc sản Cầu Kè – Trà Vinh”. Để được như vậy, “Xái pấu Chịt Sa” của Tiển Khanh phải được công nhận an toàn vệ sinh thực phẩm. Và đầu năm 2011, “Xái pấu Chịt Sa” đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận danh hiệu trên.


Di ảnh Chịt Sa

Tiến thêm một bước, Tiển Khanh mua máy hút chân không về, cho “xái pấu” của mình vô bọc nylon dầy, ép lại với nhãn hiệu khá bắt mắt. Mỗi bọc 250gr, khách mua không ngại tiền, không mất công tồn trữ trong nhà, vì bấy nhiêu đủ để hầm một nồi canh đuôi heo đậu phộng hoặc bằm chiên hột vịt tươi đủ cho cả nhà dùng bữa. Nếu muốn tồn trữ thì bọc “xái pấu” hút chân không có thể để lâu dài, rất tiện. “Xái pấu” hút chân không của Tiển Khanh đã đặt chân vào Siêu thị báo Sài Gòn Tiếp Thị từ gần 1 năm nay với giá 17.500đ/bịch 250gr. Bên cạnh đó, ông còn làm “xái pấu” trộn. “Xái pấu” xắt thành lát trộn giấm ớt và đường cho vô bọc, bán 12.000đ/bịch 200gr. Chỉ cần mở bịch nylon ra là đã có “xái pấu” “ăn liến” với cháo trắng hoặc cơm.
Dù quyết tâm cao, muốn “xái pấu” của mình đi xa hơn, nhưng Tiến Khanh đang vấp phải khó khăn về tiền bạc và hoàn cảnh sản xuất. Mỗi năm, ông chỉ có đủ tiền thu mua củ cải trắng từ Duyên Hải, Cầu Ngang (Trà Vinh) trong tháng 11 và 12 âm lịch. Đây là mùa củ cải trắng rộ, giá rẻ và có nhiều nắng để phơi, ủ. Một năm, “Xái pấu Chịt Sa” chỉ sản xuất khoảng 2,6 tấn, bán đến tháng 7 âm lịch là hết.


Củ cải muối tổ

Về tên gọi “xái pấu”, Tiển Khanh cho biết nó có nghĩa là “cải bổ”. “Xái pấu” để lâu năm gọi là “lào xái pấu”, là “lão cải bổ”, một vị thuốc. Tại nhà Tiển Khanh có một số “xái pấu” để khoảng 15 năm mà ông gọi vui là “củ cải tổ”. Cắt 1 miếng nhỏ cỡ nút áo, nhai, uống hớp nước, hết no hơi, sình bụng, hoặc cảm mạo phong hàn…



“Xái pấu” trộn

Không như “xái pấu” các nơi khác, khi ăn phải ngâm nhiều nước, có khi phải ngâm với nước pha muối đậm đặc với mục đích khử độ mặn của nó. “Xái pấu chịt Sa” chỉ cần rửa một lần nước là sẵn sàng pha chế. “Xái pấu” thường được hầm với đuôi hoặc thịt mông heo cùng đậu phộng thành món ngon bổ dưỡng. Xắt “xái pấu” thành lát trộn giấm đường ăn cháo trắng, là món ăn ưa chuộng đầu ngày của người Tiều. “Xái pấu” xắt rồi bằm chiên hột vịt là món ăn cháo không gì ngon hơn. Ngoài ra, người ta còn xắt “xái pấu” thành từng lát, trộn với nước tương và ớt ăn rất tốn cơm. Lạ cái, dù làm thành món gì, “xái pấu chịt Sa” cũng thơm nồng nàn, giòn tanh tách, mặn ngọt quyến luyến khẩu cái.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Đêm Chợ Mới

Nhạc: Hồ Hoàng
Lời thơ: Phù Sa Lộc

Click vào hình để có bản phóng lớn



Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011

Cây độc huyền trong đêm

Click vào hình để có bản phóng lớn

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

“Thơ là một nhu cầu tinh thần, không thể gượng ép”






PHAN HOÀNG


Từ tình yêu đối với bậc tiền bối Bình Nguyên Lộc ở đất đỏ miền Đông, chàng văn trẻ gốc Hoa ở miền sông nước Diệp Ngọc Sơn đã lấy bút danh Phù Sa Lộc và trở thành một trong những thi sĩ khá đậm chất Nam Bộ trên thi đàn mấy mươi năm qua. Giống như vùng Cửu Long quê hương, giọng thơ Phù Sa Lộc mênh mang, da diết. Đọc thơ Phù Sa Lộc, ta như có thể “ngửi” được mùi đất mới ở phương Nam. Cùng với các nhà thơ gốc Hoa nhiều thế hệ như Hồ Dzếnh, La Quốc Tiến, Dư Thị Hoàn… Phù Sa Lộc đã góp phần làm phong phú thêm nền thi ca Việt Nam


- Thưa ông, là một người gốc Hoa, vậy ông có gặp hạn chế gì khi tiếp xúc với nền văn hóa Việt Nam cũng như trong quá trình sáng tác?

- Ông cố tôi từ Triều Châu, Quảng Đông, di cư sang Nam Bộ từ thế kỷ XIX. Cha mẹ tôi đều gốc Hoa. Còn tôi, tiếng là gốc Hoa nhưng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, sống chan hòa ở một thị trấn Việt – Hoa - Khmer, tôi tự xem mình là một người Việt Nam, nên quá trình sáng tác chẳng có gì khó khăn.

- Những nhà văn gốc Hoa đương đại nào theo ông là đáng chú ý?
- Trước đây có bậc tiền bối Hồ Dzếnh, sau này có Lý Lan, La Quốc Tiến.

- Ông vốn họ Diệp, lấy bút danh họ Phù, nghe cũng rất lạ. Có giai thoại rằng vì yêu mến nhà văn Bình Nguyên Lộc mà ông lấy bút danh Phù Sa Lộc?
- Tôi vốn rất thích văn chương Bình Nguyên Lộc. Truyện ngắn của ông tinh tế, nhẹ nhàng, khoái nhất là văn phong Nam bộ. Vì vậy tôi mới lấy bút danh có chữ cuối trùng với bút danh ông. Tuy nhiên, ý nghĩa hai chữ Lộc khác nhau. Bình Nguyên Lộc là con nai của bình nguyên miền Đông, còn Phù Sa Lộc là chồi lộc, cái tốt đẹp của phù sa châu thổ sông Cửu Long. Tôi được sinh ra và chịu ơn vùng đất này quá nhiều.

- Ngoài Bình Nguyên Lộc, còn nhà văn nào của Nam Bộ mà ông thích?
- Tôi cũng rất kính nể Sơn Nam, một cây đại thụ khác của văn chương Nam Bộ. Có thể nói, nhờ sự lôi cuốn từ tác phẩm của hai bậc tiền bối Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam mà tôi “sa” vào văn chương.

- Thích truyện của hai “lão trượng” ấy nhưng vì sao ông lại làm thơ?
- Đúng là một nghịch lý. Từ năm 1964 tôi đã có truyện ngắn đầu tiên đăng ở báo Tia Sáng của Sài Gòn, rồi sau đó là các tờ Tiểu thuyết thứ năm, Chọn lọc… Nhưng viết truyện mãi vẫn không nổi bật, trong khi thơ tôi lại được bạn bè và độc giả chú ý. Vậy là tôi “chuyển tông” sang “nàng thơ”. Dù vậy thỉnh thoảng hứng lên tôi vẫn viết truyện.

- Hơn 30 năm gắn bó với “nàng thơ”, ông mới cho ra đời hai tập “Thơ tình tuổi bốn mươi” và “ngọn khói”. Thật quá khiêm tốn. Vì sao ông in ít như vậy? Nhìn lại chặng đường thơ của mình, ông tự đánh giá ra sao?
- Cha tôi vốn là một thương gia. Tôi là con út, được hưởng gia tài, nhưng không có duyên làm ăn, mà lại có vẻ yêu thích văn thơ. Đối với tôi, văn chương ngoài sự giải tỏa còn là một nghề kiếm sống qua ngày. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, tôi không thể có thơ ưng ý để in nhiều hơn những gì đã có. Tôi cảm thấy thơ mình đạt một số thành công nhất định, nhất là cảm xúc về thời khẩn hoang được gợi hứng từ Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Còn hiện tại, tôi thấy thơ mình đã “xưa” lắm rồi.

- Mỗi thi sĩ thường có một quan niệm riêng về thi ca. Với ông quan niệm về thơ có gì đặc biệt?
- Thơ là một nhu cầu tinh thần, không thể gượng ép. Thơ nó tự đến, buộc nhà thơ phải làm, phải đắm chìm trong thế giới sáng tạo. Còn trong thực tế, có khi thơ là một phương tiện kiếm sống. Tôi cũng từng rơi vào trường hợp đau lòng đó và rất lấy làm mắc cỡ.

- Có lúc nào ông dự định lìa bỏ “nàng thơ” không? Thơ ông nhận được phản ứng ra sao từ phía bà nhà?
- Nhiều lúc tôi nghĩ, giá có kiếp sau thì nhất định tôi không những không làm thơ nữa, mà còn không thèm lai vãng đến thế giới… cầm bút. Nhưng, như tôi đã nói, thơ là một nhu cầu tinh thần, không viết không được. Vợ tôi không chỉ là người “đỡ đầu” cho “chàng thơ” mà còn rất quý bạn bè văn nghệ của tôi.

- Là nhà thơ khá hiểu biết về thơ đương đại của đồng bằng sông Cửu Long, theo ông, những nhà thơ nào thực sự giữ được cái chất miền sông nước này?
- Riêng với đồng bằng sông Cửu Long, làm được thơ “đặc chủng” về vùng đất mới này thật khó. Đọc ca dao, dân ca miệt vườn thấy rất sâu sắc, nhưng khi chạm ngòi bút tới thì thấy khó làm sao. Rất vui vì có thơ Thu Nguyệt biểu hiện được chất Nam Bộ.

- Ông có cảm thấy sự khác biệt nào trong đời sống văn chương giữa miền Tây Nam Bộ với các miền đất khác?
- So với miềm Bắc hay miền Trung, tôi thấy một người viết văn có nét ở miền Tây ít có cơ hội được giúp đỡ, nâng lên. Mà họ phải trải qua một quá trình phấn đấu tự lực và công phu. Người Nam Bộ nói chung thường coi văn thơ là thú chơi tao nhã, ít chịu phấn đấu, nên thành tựu khiêm tốn.




***

Mấy năm gần đây, nhà thơ Phù Sa Lộc không chỉ sống bằng văn chương nữa, ông đã có thêm một nghề mới: nghề báo. Trở thành phóng viên văn hóa cho nhật báo Cần Thơ khi tuổi đời đã ngũ tuần nhưng Phù Sa Lộc vẫn tỏ ra sung sức. Ông đọc nhiều, đi nhiều, viết nhiều. Nghề báo giúp ông ổn định việc mưu sinh, đồng thời cũng là một trong những “bệ phóng” cho sáng tác của ông, khi được cập nhật thông tin và có điều kiện đi xa, đi sâu vào vùng đất “chôn nhau cắt rốn”.



Mùa thu năm ngoái – 2001, khi đoàn nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đi thực tế biên giới tỉnh An Giang, “quá giang” một đêm Cần Thơ, nhà thơ Phù Sa Lộc cũng không bỏ qua cơ hội “tháp tùng” đoàn và trở thành một “thành viên” xông xáo nhất. Ông rủ chúng tôi sục sạo ngọn núi lịch sử Tức Dụp, đếm từng vết máu còn sót lại ở nhà mồ Ba Chúc, đi tìm những bến xe ngựa thồ ở thị trấn Tri Tôn mà có lẽ cũng là những chiếc xe ngựa cuối cùng của miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt, khi đoàn nhà văn ngủ đêm ở Suối Vàng, một điểm du lịch nằm cheo leo trên núi, nhà thơ Phù Sa Lộc không chịu “ngả lưng” mà tiếp tục cùng tôi và các nhà thơ “thổ dịa” Phạm Nguyên Thạch, Hồ Thanh Điền, Trương Công Thuốt đi thực tế vùng núi rừng biên giới này. Rồi tình cờ, bên một quán “cóc”, chúng tôi được tiếp xúc với một cô chủ quán khá xinh đẹp lại ăn nói có duyên, vì thi đại học rớt mà về đây lấy chồng, mở quán sinh nhai. Nhìn sơn nữ An Giang, tôi chợt nhớ đến “hải nữ” Kiên Giang trong thơ Phù Sa Lộc. Tôi đọc:

Hải Tiên, Hải Tiên nàng ơi Đêm Kiên Giang mời nàhg lên ngôi Đêm bao la giọt trời tinh khôi Đêm long lanh giọt tình xa khơi Nàng bên ta, cùng ta, chơi vơi

Không biết sau chuyến đi ấy, nhà thơ Phù Sa Lộc có viết bài thơ nào về sơn nữ An Giang không? Tôi không tiện hỏi. Nhà thơ cũng không nhắc tới. Chỉ biết rằng, sau một năm gặp lại nhau ở Cần Thơ, trông nhà thơ có vẻ còn “phong độ” hơn. Hy vọng giữa công việc báo chí bộn bề, thi sĩ đáng quý của xứ miệt vườn này không quên “nàng thơ” vốn cùng mình lênh đênh khắp miền sông nước.

(Tuần báo Sài Gòn Thứ Bảy số 609 – 2-11-2002, trang 32-33)