Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011

Cây độc huyền trong đêm

Click vào hình để có bản phóng lớn

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

“Thơ là một nhu cầu tinh thần, không thể gượng ép”






PHAN HOÀNG


Từ tình yêu đối với bậc tiền bối Bình Nguyên Lộc ở đất đỏ miền Đông, chàng văn trẻ gốc Hoa ở miền sông nước Diệp Ngọc Sơn đã lấy bút danh Phù Sa Lộc và trở thành một trong những thi sĩ khá đậm chất Nam Bộ trên thi đàn mấy mươi năm qua. Giống như vùng Cửu Long quê hương, giọng thơ Phù Sa Lộc mênh mang, da diết. Đọc thơ Phù Sa Lộc, ta như có thể “ngửi” được mùi đất mới ở phương Nam. Cùng với các nhà thơ gốc Hoa nhiều thế hệ như Hồ Dzếnh, La Quốc Tiến, Dư Thị Hoàn… Phù Sa Lộc đã góp phần làm phong phú thêm nền thi ca Việt Nam


- Thưa ông, là một người gốc Hoa, vậy ông có gặp hạn chế gì khi tiếp xúc với nền văn hóa Việt Nam cũng như trong quá trình sáng tác?

- Ông cố tôi từ Triều Châu, Quảng Đông, di cư sang Nam Bộ từ thế kỷ XIX. Cha mẹ tôi đều gốc Hoa. Còn tôi, tiếng là gốc Hoa nhưng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, sống chan hòa ở một thị trấn Việt – Hoa - Khmer, tôi tự xem mình là một người Việt Nam, nên quá trình sáng tác chẳng có gì khó khăn.

- Những nhà văn gốc Hoa đương đại nào theo ông là đáng chú ý?
- Trước đây có bậc tiền bối Hồ Dzếnh, sau này có Lý Lan, La Quốc Tiến.

- Ông vốn họ Diệp, lấy bút danh họ Phù, nghe cũng rất lạ. Có giai thoại rằng vì yêu mến nhà văn Bình Nguyên Lộc mà ông lấy bút danh Phù Sa Lộc?
- Tôi vốn rất thích văn chương Bình Nguyên Lộc. Truyện ngắn của ông tinh tế, nhẹ nhàng, khoái nhất là văn phong Nam bộ. Vì vậy tôi mới lấy bút danh có chữ cuối trùng với bút danh ông. Tuy nhiên, ý nghĩa hai chữ Lộc khác nhau. Bình Nguyên Lộc là con nai của bình nguyên miền Đông, còn Phù Sa Lộc là chồi lộc, cái tốt đẹp của phù sa châu thổ sông Cửu Long. Tôi được sinh ra và chịu ơn vùng đất này quá nhiều.

- Ngoài Bình Nguyên Lộc, còn nhà văn nào của Nam Bộ mà ông thích?
- Tôi cũng rất kính nể Sơn Nam, một cây đại thụ khác của văn chương Nam Bộ. Có thể nói, nhờ sự lôi cuốn từ tác phẩm của hai bậc tiền bối Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam mà tôi “sa” vào văn chương.

- Thích truyện của hai “lão trượng” ấy nhưng vì sao ông lại làm thơ?
- Đúng là một nghịch lý. Từ năm 1964 tôi đã có truyện ngắn đầu tiên đăng ở báo Tia Sáng của Sài Gòn, rồi sau đó là các tờ Tiểu thuyết thứ năm, Chọn lọc… Nhưng viết truyện mãi vẫn không nổi bật, trong khi thơ tôi lại được bạn bè và độc giả chú ý. Vậy là tôi “chuyển tông” sang “nàng thơ”. Dù vậy thỉnh thoảng hứng lên tôi vẫn viết truyện.

- Hơn 30 năm gắn bó với “nàng thơ”, ông mới cho ra đời hai tập “Thơ tình tuổi bốn mươi” và “ngọn khói”. Thật quá khiêm tốn. Vì sao ông in ít như vậy? Nhìn lại chặng đường thơ của mình, ông tự đánh giá ra sao?
- Cha tôi vốn là một thương gia. Tôi là con út, được hưởng gia tài, nhưng không có duyên làm ăn, mà lại có vẻ yêu thích văn thơ. Đối với tôi, văn chương ngoài sự giải tỏa còn là một nghề kiếm sống qua ngày. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, tôi không thể có thơ ưng ý để in nhiều hơn những gì đã có. Tôi cảm thấy thơ mình đạt một số thành công nhất định, nhất là cảm xúc về thời khẩn hoang được gợi hứng từ Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Còn hiện tại, tôi thấy thơ mình đã “xưa” lắm rồi.

- Mỗi thi sĩ thường có một quan niệm riêng về thi ca. Với ông quan niệm về thơ có gì đặc biệt?
- Thơ là một nhu cầu tinh thần, không thể gượng ép. Thơ nó tự đến, buộc nhà thơ phải làm, phải đắm chìm trong thế giới sáng tạo. Còn trong thực tế, có khi thơ là một phương tiện kiếm sống. Tôi cũng từng rơi vào trường hợp đau lòng đó và rất lấy làm mắc cỡ.

- Có lúc nào ông dự định lìa bỏ “nàng thơ” không? Thơ ông nhận được phản ứng ra sao từ phía bà nhà?
- Nhiều lúc tôi nghĩ, giá có kiếp sau thì nhất định tôi không những không làm thơ nữa, mà còn không thèm lai vãng đến thế giới… cầm bút. Nhưng, như tôi đã nói, thơ là một nhu cầu tinh thần, không viết không được. Vợ tôi không chỉ là người “đỡ đầu” cho “chàng thơ” mà còn rất quý bạn bè văn nghệ của tôi.

- Là nhà thơ khá hiểu biết về thơ đương đại của đồng bằng sông Cửu Long, theo ông, những nhà thơ nào thực sự giữ được cái chất miền sông nước này?
- Riêng với đồng bằng sông Cửu Long, làm được thơ “đặc chủng” về vùng đất mới này thật khó. Đọc ca dao, dân ca miệt vườn thấy rất sâu sắc, nhưng khi chạm ngòi bút tới thì thấy khó làm sao. Rất vui vì có thơ Thu Nguyệt biểu hiện được chất Nam Bộ.

- Ông có cảm thấy sự khác biệt nào trong đời sống văn chương giữa miền Tây Nam Bộ với các miền đất khác?
- So với miềm Bắc hay miền Trung, tôi thấy một người viết văn có nét ở miền Tây ít có cơ hội được giúp đỡ, nâng lên. Mà họ phải trải qua một quá trình phấn đấu tự lực và công phu. Người Nam Bộ nói chung thường coi văn thơ là thú chơi tao nhã, ít chịu phấn đấu, nên thành tựu khiêm tốn.




***

Mấy năm gần đây, nhà thơ Phù Sa Lộc không chỉ sống bằng văn chương nữa, ông đã có thêm một nghề mới: nghề báo. Trở thành phóng viên văn hóa cho nhật báo Cần Thơ khi tuổi đời đã ngũ tuần nhưng Phù Sa Lộc vẫn tỏ ra sung sức. Ông đọc nhiều, đi nhiều, viết nhiều. Nghề báo giúp ông ổn định việc mưu sinh, đồng thời cũng là một trong những “bệ phóng” cho sáng tác của ông, khi được cập nhật thông tin và có điều kiện đi xa, đi sâu vào vùng đất “chôn nhau cắt rốn”.



Mùa thu năm ngoái – 2001, khi đoàn nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đi thực tế biên giới tỉnh An Giang, “quá giang” một đêm Cần Thơ, nhà thơ Phù Sa Lộc cũng không bỏ qua cơ hội “tháp tùng” đoàn và trở thành một “thành viên” xông xáo nhất. Ông rủ chúng tôi sục sạo ngọn núi lịch sử Tức Dụp, đếm từng vết máu còn sót lại ở nhà mồ Ba Chúc, đi tìm những bến xe ngựa thồ ở thị trấn Tri Tôn mà có lẽ cũng là những chiếc xe ngựa cuối cùng của miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt, khi đoàn nhà văn ngủ đêm ở Suối Vàng, một điểm du lịch nằm cheo leo trên núi, nhà thơ Phù Sa Lộc không chịu “ngả lưng” mà tiếp tục cùng tôi và các nhà thơ “thổ dịa” Phạm Nguyên Thạch, Hồ Thanh Điền, Trương Công Thuốt đi thực tế vùng núi rừng biên giới này. Rồi tình cờ, bên một quán “cóc”, chúng tôi được tiếp xúc với một cô chủ quán khá xinh đẹp lại ăn nói có duyên, vì thi đại học rớt mà về đây lấy chồng, mở quán sinh nhai. Nhìn sơn nữ An Giang, tôi chợt nhớ đến “hải nữ” Kiên Giang trong thơ Phù Sa Lộc. Tôi đọc:

Hải Tiên, Hải Tiên nàng ơi Đêm Kiên Giang mời nàhg lên ngôi Đêm bao la giọt trời tinh khôi Đêm long lanh giọt tình xa khơi Nàng bên ta, cùng ta, chơi vơi

Không biết sau chuyến đi ấy, nhà thơ Phù Sa Lộc có viết bài thơ nào về sơn nữ An Giang không? Tôi không tiện hỏi. Nhà thơ cũng không nhắc tới. Chỉ biết rằng, sau một năm gặp lại nhau ở Cần Thơ, trông nhà thơ có vẻ còn “phong độ” hơn. Hy vọng giữa công việc báo chí bộn bề, thi sĩ đáng quý của xứ miệt vườn này không quên “nàng thơ” vốn cùng mình lênh đênh khắp miền sông nước.

(Tuần báo Sài Gòn Thứ Bảy số 609 – 2-11-2002, trang 32-33)

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Dọc đường Mũi Né



Từ Quốc lộ 1 rẽ vào phía bắc Mũi Né (Thành phố Phan Thiết, Bình Thuận) là con đường nhựa uốn lượn quanh co qua những dốc đồi với cảnh quan hai bên đường ngoạn mục. Mùa mưa, những ngọn đồi thấp dờn xanh những ngọn cỏ lún phún. Như thảo nguyên. Mùa nắng một màu đỏ hoang dại của đất sỏi khô cằn miền Trung trải dài ngút mắt. Phía chân trời xa nhấp nhô những ngọn núi xanh úa vàng mùa nắng nóng cùng những làng mạc chập chùng khuất nẻo. Đi thêm chút nữa, những đụn cát cao lượn lờ theo vòng bánh xe lăn. Đồi cát trải rộng hàng chục cây số như mời gọi khách lữ hành dừng chân làm một chuyến leo đồi thú vị. Thú vị thật, bước chân ta chìm lún trong những hạt cát chất chồng không kết nối. Nó len vào giày như níu kéo ta ở lại với trần gian. Nhưng một khi quyết tâm vượt lên, là ta đã lên tới thiên đàng. Đúng là cõi tiên. Những ngọn đụn cát gợn sóng với nhiều hình thù khác nhau chập chùng hiện ra trước mắt. Càng ngắm càng mê say vì gió khiến đồi cát biến dạng liên tục, đẹp ảo huyền như trò ảo thuật. Chính vì vậy mà người ta gọi nó là đồi cát bay. Tiện tay hốt nắm cát. Trới đất, sao mà mịn vậy. Như bột. Cát, có tới 18 màu. Đã đời hơn là ta thấy cảm giác mạnh trong trò chơi trượt cát. Mướn tấm nhựanho nhỏ, chân để một đầu, ngồi ngửa, hai tay níu sợi dây dính đầu tấm nhựa, từ trên đỉnh đồi ta thả mình xuống dốc. Tấm nhựa “xé cát” đưa ta lao vù vù xuống, như bay, khoái thiệt. Điều ai cũng ngạc nhiên là bên cạnh đồi cát có hai bàu nước: Bàu Ông và Bàu Bà, gọi chung là Bàu Trắng. Mỗi bàu sâu khoảng 19m, nước ngọt. rất hấp dẫn…. Từ đồi cát bay (còn gọi đồi hồng) đi bộ xuống biển. Nước trong xanh với những lượn sóng bạc đầu ùa bờ. Hòa mình trong những ngọn sóng ấy, bao nhọc mệt đường xa như tiêu biến.


Khám phá đồi cát bay.

Xe đưa ta xuyên qua hai hàng dừa cao vút. Biển bên trái. Bao la là biển với những chiếc thuyền dập dềnh neo đậu trong vịnh Mũi Né đẹp xinh. Tương truyền, Mũi Né là một mũi biển mà dân chài lưới xưa kia mỗi khi gặp bão thường đến đây trú náu (“né”). Tuy nhiên có người nói nguồn gốc tên gọi Mũi Né xuất phát từ một truyền thuyết khác. Xưa kia, công chúa Chuột, còn gọi là Né, của vua Chăm, năm 16 tuổi bị bệnh nan y, xây dựng am để tu hành tại Hòn Rơm, được dân địa phương gọi là Bà Né. Lâu dần, người ta đọc trại là Nà Né rồi thành Mũi Né đến ngày nay.

Lại êm ả lướt qua con đường rợp mát bóng dừa lả ngọn trong gió đại dương. Chợt nhớ năm xưa con đường này đẹp hết hồn. Màu đất đỏ nền đường như ánh lên trong sắc xanh mát của hai hàng dừa giao ngọn, hun hút theo vệt bánh xe qua. Còn bây giờ là con đường nhựa rộng lớn với những resort, khách sạn ken đầy hai bên.


Hoàng hôn trên biển Mũi Né.

Ghé một khách sạn nghỉ. Chiều xuống. Ngồi thư thả bên bờ biển nhìn những chiếc thuyền thúng lênh đênh đánh bắt cá. Kêu ngoắc. Mua mớ cá đối. Những con cá tươi xanh nằm trên bếp than hồng, trong chốc lát trở thành món ngon chấm muối ớt. Mặt trời đỏ lựng chìm dần xuống đại dương xanh thẫm. Biển lấp lánh như có hào quang. Cùng bè bạn nhâm nhi ly rượu ấm ngọn gió trùng khơi với đặc sản xứ này là gỏi cá mai trong suốt cuốn bánh tráng rau thơm, ốc hương giòn lạnh trong răng, cá gáy chiên chấm nước mắm Phan Thiết giằm ớt cay tê mê thần khẩu…

Đánh bắt cá bằng thuyền thúng.

Ngủ một đêm, sáng dậy, đi chợ Mũi Né. Chợ quê rộn rã nhóm với nhiều nông hải sản. Cá là cá. Khô là khô. Củ sắn còn nguyên lá cột thành bó ngộ nghĩnh. Đặc biệt, nguyên một con heo rừng xả thịt bày trên miếng vải nhựa. Heo rừng thứ thiệt vì da “tua tủa” những chân lông. Đặc biệt là bánh ướt. Bánh được tráng từng tấm bự bằng bột gạo rắc hành lá xắt nhỏ. Thưởng thức theo kiểu địa phương chỉ ăn với nước mắm chanh ớt, mỗi dĩa một bánh. Điểm tâm no nê bụng dạ 10 dĩa chỉ có 10.000 đồng. Còn ăn kiểu Bắc thì thêm chả quế, giò chả, “sang trọng” hơn, tất nhiên giá tiền phải cao hơn.


Trên đường về thành phố Phan Thiết, nhìn bên phải thấy nhấp nhô những ngôi nhà tráng lệ trên triền đồi cao. Khu biệt thự Mũi Né. Ghé vào, cho thấy đây là khu nhà cao cấp muốn ở phải có rất nhiều tiền, vì các bảng chỉ dẫn đều dùng toàn chữ Anh. Trong khu có sân gôn. Đứng tại đây có thể thấy biển và thấy cả đồi hồng cái thấp cái cao nối nhau chạy dài tới vô tận.



Trước khi vui đùa cùng sóng biển.

Lượn lờ đèo dốc, xe đi ngang ngọn đồi Bà Nà với ba ngôi tháp Chăm được xây dựng từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 9. Tháp lớn nhất cao 15m thờ thần Shiva, có bộ Linga – Yoni bằng đá đen nguyên khối. Gần tháp này là tháp thờ thần Lửa và tháp thờ thần Bò Nandin cách đó khoảng 50m. Cả hai tháp này thấp hơn và bị hư hỏng khá nhiều. Các nhà khảo cổ khi khảo sát đã thấy trong khu vực này có nền móng của một ngôi đền với nhiều tầng bậc đã bị sụp đổ. Đó là ngôi đền thờ công chúa Pôshanư, con gái vua Para Chanh. Theo truyền thuyết, công chúa Pôshanư ngoài sắc đẹp tuyệt vời còn là người đã ra công dạy làm các nghề: cá, dệt vải, gốm... cho dân Champa ở Pajai, tức Phú Hài (TP Phan Thiết) ngày nay. Vì vậy, khi công chúa qua đời, người ta xem như thần linh, như Bà Chúa Xứ, Bà Thiên Hậu, và lập đền thờ để tưởng nhớ công đức Bà. Khoảng tháng 10 Dương lịch hằng năm, nơi đây diễn ra lễ hội Katê để cúng thần linh, tổ tiên, cầu mưa thuận gió hòa, ngoài việc tắm bộ tượng Linga – Yoni còn dâng y phục cho Bà. Lễ hội đông vui với sự tham dự của đồng bào Chăm địa phương cùng du khách khắp nơi. Tiếng trống Baranưng, tiếng kèn Saranai rộn ràng khiến những diệu múa của các cô thiếu nữ mặc áo váy đẹp càng thêm uyển chuyển, hấp dẫn. Cụm 3 tháp Pôshanư đã được công nhận là di tích cấp quốc gia từ năm 1991.


Từ cụm tháp Pôshanư đi lên nơi cao nhất của ngọn đồi Bà Nà là đến phế tích Lầu Ông Hoàng. Lầu Ông Hoàng là nơi được Hàn Mặc Tử nhắc đến trong bài thơ “Phan Thiết, Phan Thiết”: “Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng/Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang/Nơi đã khóc đã yêu thương da diết”. Đó là nơi Hàn Mặc Tử đã cùng Mộng Cầm tìm đến trong thời gian hai người yêu nhau. Lên đồi Bà Nà, ta nên đi theo con đường đá sỏi, mới thích thú cảm nhận được mấy câu hát: “Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa. Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mặc Tử đã qua...” của Trần Thiện Thanh. Từ Lầu Ông Hoàng, phóng tầm mắt, ta thấy một phía biển xanh, một phía núi cao, phía kia là thành phố Phan Thiết xinh đẹp. Nếu đến đây vào lúc bình minh, hoặc chiều tà ta sẽ có dịp chiêm ngắm cảnh mặt trời mọc trên biển và cảnh hoàng hôn lãng mạn chìm khuất sau dãy núi xa xanh. Cảm xúc dâng tràn.

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

Giai điệu tình xuân

Nhạc: Hồ Hoàng
Lời: Cát Lộc

Click vào hình để có bản phóng lớn

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

“Gió bụi” Tây Nguyên – miền Trung

Đoàn nhà văn TP Cần Thơ vừa tổ chức chuyến đi thực tế sáng tác tại một số tỉnh Tây Nguyên – miền Trung với 19 anh chị, do nhà thơ – nhà văn Lê Minh Phán làm trưởng đoàn, nhà văn – nhà thơ Phương Huy (tác giả văn bia Đồ Chiểu) phó đoàn. Xin ghi lại một vài kỷ niệm trong chuyến đi gọi là giúp vui bạn đọc.


Lạc đường vào Phước Long và…
Rời Bình Dương, xe “ngon trớn” đi vào Phước Long (Bình Phước). Ghé quán cà phê vừa nghỉ ngơi giải khát vừa hỏi đường đi Ban Mê Thuột. Vậy là phải lộn ngược mấy chục cây số đường nên tới Buôn Ma Thuột đã tối lắm rồi, khiến cô nhân viên của Hội Văn nghệ Đăk Lăk đứng ngồi không yên vì chờ đưa đoàn đến khách sạn. Tại khách sạn có anh chàng phụ trách một gian hàng. Anh ta mời đoàn nếm thử hương vị cà phê, đặc biệt rượu Ama Kông. Thậm chí còn chỉ dẫn cách ngâm thuốc với 20 lít rượu, ngâm thêm 200 gam chuối hột khô để có mùi đặc trưng của nó. Nhật Hồng trổ tài sao đó mà khi lên xe ra tiệm ăn, mặt mày hớn hở với chai rượu Ama Kông vừa mới được anh ta tặng để tiếp thị “trực quan” với đoàn mà người đầu tiên sẽ mua là Nhật Hồng.

Sáng hôm sau, Lê Khôi Nguyên, Phó chủ tịch Hội, Tổng biên tập Tạp chí Chư Yang Sin, đưa đoàn đi tham quan mộ vua voi Khun Yu Nốb và Buôn Đôn. Anh chị hào hứng đi cầu treo, còn cưỡi voi thì chẳng thấy ai leo lên lưng con vật khổng lồ này dù trước đó có nhiều vị nôn nao ao ước. Giá cưỡi voi tới 80.000 đồng/3 người/chuyến 15’. Ngay cả cơm lam đặc sản nơi đây cũng chẳng mấy ai “rớ” dù rất muốn thưởng thức! Có lẽ vì ăn sáng và mua vé tham quan tự túc nên ai cũng “thủ” túi tiền. Bù lại, anh chị được anh Khôi Nguyên “đãi” “đại tiệc” kiến thức về tên núi, tên sông, cùng nhiều chuyện về cái buôn “khổng lồ” này. Trên đường đi, nghe Khôi Nguyên kể sự tích “ly kỳ” của Ama Kông, nhất là “dược diệu” nổi danh của ông chỉ là rễ và lá cây bậy bạ cùng một số dâm dương hoắc Nhật Hồng tá hỏa tam tinh, mừng húm vì không phải mất 70.000 đồng mua 1 thang về ngâm rượu uống cho bà xã khen. Từ đó, anh có biệt danh “điếm vườn” vì lừa được “điếm núi” là anh chàng phụ trách gian hàng của khách sạn hết sức tía la mồm miệng kia.
Khi tham quan Nhà Bảo tàng dân tộc tỉnh Đăk Lăk, anh chị ai cũng “bần thần” trước 2 cây long não khổng lồ trong sân rộng bao la, có lẽ nó có mặt tại đây từ khi Bảo Đại chưa xây dựng biệt điện để nghỉ dưỡng nơi vùng đất Tây Nguyên này.

Buổi trưa, Khôi Nguyên nhiệt tình đưa đoàn tham quan vài điểm nữa, nhưng may quá, mới 13 giờ, chưa ai đến làm việc. Đoàn “phấn khởi” lên đường đi Pleiku (Gia Lai), lẽ ra đi Kontum,. Lý do: trước đó, Lê Chí biết được kế hoạch này nên đề nghị ghé Pleiku hay hơn, nhất là tham quan Ialy. Xe bon bon tới “thủ phủ” của Hoàng Anh Gia Lai, được Hội Đăk Lăk gọi điện giới thiệu trước, nên cô nhân viên Hội Văn nghệ Gia Lai đón đưa đoàn đến nhà khách Thanh Niên. Sau bữa cơm thân mật, anh em được cô đưa đi uống cà phê “ngon nhứt Pleiku”. Ai cũng khen, nhưng đều than đi về xa quá. Sáng hôm sau mới biết mình đi lạc đường, vì từ quán cà phê về nhà khách chẳng bao lăm!

Ialy với hồ nước bao la, nhất là cầu đập tràn “vĩ đại”, hẻm núi sâu hun hút, dù mùa này nước rất cạn. Vào đường hầm (dài 500m, rộng 4m) tham quan tổ máy mới thấy sức lực con người quả là đáng nể. Và tiền của đổ vào đây cũng thuộc hạng “kinh hoàng”.

Đêm vui “quá ể”
Tới Kontum khi trời còn nắng nóng, anh chị tranh thủ… giặt đồ, sau khi ổn định nơi nghỉ. Hội Văn Nghệ Kontum cử người đưa đoàn tham quan ngục Kontum, nhà thờ gỗ, cầu treo Konklor, uống cà phê Eva. Buổi cơm chiều diễn ra trong không khí thân tình do Hội bạn đãi, với sự hiện diện của Chủ tịch Hội Hữu Kim, Tạ Văn Sĩ… Buổi tiệc cũng hoành tráng, đặc biệt rất giống 2 hội Đăk Lăk và Gia Lai là có món cơm ăn với canh cua cà pháo mắm tôm. Bia uống nhiều hứng khởi nhờ có hai nhà thơ nữ trẻ của địa phương là Hồng Thủy Tiên và Doãn Mãi. Bữa cơm tưởng vậy nhưng vẫn tiếp tục khi Hữu Kim, Tạ Văn Sĩ cùng Hồng Thủy Tiên kéo đến nhà nghỉ… nhậu tiếp. Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, Nguyễn Trung Nguyên và tôi đãi bạn rượu thuốc mang theo từ Cần Thơ với sầu riêng núi mua ở chợ Kontum, Hồng Thủy Tiên mút sầu riêng ngon ơi là ngon. Rượu vào… thơ ra, Tạ Văn Sĩ đọc thơ lia lịa. Chưa đã… ngứa, Hữu Kim mời tất cả đi ăn cháo gà… “giảm cải”. Lại nhậu tiếp mấy chai Vodka Hà Nội. Say túy lúy, về khách sạn mới có… 3 giờ khuya.

“Sự cố” sông Hương
Tới Huế qua con đường Trường Sơn hoành tráng với nhiều cung đường đẹp vô cùng vậy mà chẳng được dừng lại chụp tấm ảnh nào. Qua hầm Hải Vân, tới khách sạn, do Hội Văn Nghệ Thừa Thiên – Huế giới thiệu, lúc xế chiều. Xe vừa ngừng đã thấy Võ Quê, qua điện thoại với Nguyễn Ngọc Tuyết biết đoàn sắp đến, đứng chờ với 2 chai Coca Cola đầy rượu làng Chuồn đặc sản quê anh. Võ Quê báo sẽ chiêu đãi đoàn đặc sản văn hóa ca Huế trên sông Hương vào tối mai rồi từ giã ra về chăm sóc bà vợ đau nặng nhiều tháng qua. Tối đó anh chị túa đi xem một vài nơi như cầu Trường Tiền, chợ Đông Ba, cầu Gia Hội… Sáng hôm sau tham quan lăng Tự Đức, Khải Định, Đan viện Thiên An (nhà thờ Hầm), chiều thăm chùa Thiên Mụ và Đại Nội. Có lẽ sợ thăm Đại Nội mất nhiều thời gian nên, theo Nguyễn Ngọc Tuyết, phó đoàn bảo chị hồi chuyến ca Huế trên sông Hương với Võ Quê. Phó đoàn thì bảo mình mệt nên nhờ Nguyễn Ngọc Tuyết báo với Võ Quê anh vắng mặt (?). Còn Nguyễn Ngọc Tuyết thì bảo phó đoàn nói như vậy có Lâm Thị Thanh Hà, Trúc Linh Lan nghe. Còn phó đoàn thì bảo nhờ Nguyễn Ngọc Tuyết xin lỗi Võ Quê ông không đi được. Buồn cười là sau khi thăm Đại Nội về, xe vẫn cứ tới bến đò Lê Lợi để xuống thuyền nghe ca Huế. Trưởng đoàn cùng một số người đứng chờ “sái cổ”, cuối cùng mới biết chương trình bị “xù”, lủi thủi về khách sạn.

Cứ tưởng Võ Quê giận, nhưng không, khi anh chị thân thiết với nhà thơ cố đô này mời nhậu chia tay lúc 19 giờ, Võ Quê vẫn tới. Để bày tỏ tình thân, Nguyễn Ngọc Tuyết, vẫn sợ Võ Quê từ chối, phải nói rất khéo về số tiền anh chị trong đoàn góp gọi là giúp bà xã anh trị bệnh. “Tiệc” toàn món Huế: bánh nậm, bột lọc, bánh bèo, đặc biệt bánh khoái… ăn với rau tươi và trái vả, nhậu với bia Huda. (Nhắc Huda mới chợt nhớ ông trưởng đoàn chỉ tấm bảng quảng cáo hỏi tài xế Huda là gì!). Tình thân bè bạn giữa Võ Quê với Lê Chí, Nguyễn Ngọc Tuyết, Trúc Linh Lan và tôi vốn có từ lâu nên “sự cố” nhỏ nhoi ấy chẳng hề chi. Chung vui và chung tiền đãi Võ Quê còn có Lâm Thị Thanh Hà, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng và Nguyễn Trung Nguyên. Tiệc nhậu đã vui càng vui hơn khi Võ Quê đãi “đặc sản” là “ca Huế trong quán cóc” với “Tương Tư Khúc” do anh sáng tác, Chầu văn… Dù đã trộng tuổi nhưng giọng ca của anh vẫn cuốn hút bạn bè, nhất là bốn thành viên mới: Lâm Thị Thanh Hà, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng và Nguyễn Trung Nguyên…

Cô đơn… trên đỉnh Bạch Mã
Trên đường rời Huế, Võ Quê gọi điện bảo Hội Văn Nghệ Thừa Thiên – Huế cử người đón đoàn hôm qua, sao chẳng thấy. Theo một vài người thì trưởng đoàn nói tưởng Võ Quê là Chủ tịch Hội đến đón nên không liên lạc với Hội! Trên đường, trưởng đoàn thăm dò ai đi Bạch Mã thì giơ tay, rồi nói: “Chỉ có mình anh Lê Chí”, nên cuộc “du sơn” bị hủy. Lê Chí hậm hực: “Hồi tối nhiều người đồng ý đi Bạch Mã vậy mà khi biểu quyết chỉ có mình tui!”. Té ra, anh là “bạn” của Võ Quê. Vì, trước kia, Võ Quê cũng đã từng bị “cô đơn” trên đồi Vọng Cảnh như vậy. May là Lê Chí không bị cho “về hưu sớm” như Võ Quê! Chợt nhớ, trên đường từ Kontum đi Huế, Lê Chí đề nghị ghé thăm hoặc nghỉ đêm Măng Đen. Bị… tài xế từ chối vì đường xấu, xe lớn không vô được, dù Lê Chí đã hỏi kỹ Tạ Văn Sĩ và được Hồ Thanh Điền (An Giang) đã lâu cho biết đường rất dễ đi. Vậy là “thiên đường biến mất” ngay trước mắt.

Xe bon bon lướt qua phá Tam Giang nổi tiếng ngay sát bên đường, mà ghé “vũng” gần Lăng Cô “để anh chị chụp hình”, rồi lướt qua đèo Hải Vân không thèm biết bãi biển Lăng Cô tráng lệ nằm bên dưới kia. Nếu ai hỏi cố đô còn gì sẽ “nhờ” “Trung niên thi sĩ” Bùi Giáng “kính cẩn” trả lời: “Dạ thưa xứa Huế bây giờ/Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”!

Ghé đỉnh đèo Hải Vân. Anh chị háo hức chụp hình “Đệ nhất hùng quan”. Tới Đà Nẵng, lấy phòng. 12 giờ 30 phó đoàn kêu đi ăn, dù đã báo 13 giờ. Xuống xe, trưởng đoàn nghe nói ăn xong đi Hội An, bèn lật đật trở lên phòng lấy đồ! Thăm làng đá mỹ nghệ Non Nước, Hội An, trở về, tài xế ghé bãi Mỹ Khê để đoàn tắm biển. Nhưng chẳng ai tắm vì có ai biết để mang theo đồ tắm.

Buổi tối, Lê Chí hẹn gặp Thanh Quế. Lê Chí cùng Nguyễn Ngọc Tuyết, Trúc Linh Lan, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, Nguyễn Trung Nguyên và tôi ra quán bình dân nhậu bia với hải sản. Thanh Quế nói liên tục đủ mọi chuyện trên đời, vừa nói vừa lấy tay kéo sụp lưỡi trai chiếc nón vừa hất nó lên. Ông bảo Hội Nhà Văn nên mời người viết vào, không nên chọn lựa như lâu nay, ai sống được thì sống, còn không thì bị tiêu vong theo quy luật. Đặc biệt thú vị là ông không biết sử dụng máy vi tính, điện thoại chỉ nghe và gọi, ai nhắn tin cho ông là “ngu lắm”!

Sáng, tài xế đưa đoàn tới Hội An, chạy loanh quanh rồi hướng thẳng tới Vĩnh Điện… ăn sáng. Anh chị chê mì Quảng ở đây quá tệ. Sao không ăn mì Quảng hoặc cao lâu ở Hội An? Ghé Mỹ Sơn. Những đền tháp hoang tàn vẫn cho thấy nét tráng lệ xưa của nó. Đặc biệt sướng mắt sướng tai khi được thưởng ngoạn văn nghệ Chăm, nhất là màn múa Apsara hấp dẫn.

Tới Quy Nhơn, sáng thăm mộ Hàn Mặc Tử, trên đường tới Tuy Hòa (Phú Yên), ghé Gành Đá Dĩa. Đẹp hết hồn. Khi ăn trưa quán Thạch Sanh. Thấy viên đá trứng bự cỡ chiếc gối đặt trên chậu kiểng, Nhật Hồng “chíp” trong bụng. Ăn xong đến gặp chủ quán, tỉ tê “chiêu” “điếm vườn”: Nhà anh có nhiều kiểng đẹp quá, xứ tôi cũng có. Nhưng xứ anh đá nhiều còn xứ tôi không có. Anh có thể cho tôi xin viên đá kia làm kỷ niệm. Ông chủ quán hỏi ý cậu con trai. Anh ta ngần ngừ, ông thúc cho đi, mình ở đây dễ kiếm hơn ông anh miền Tây yêu đá xứ mình. Cậu con đồng ý, khiêng lên xe theo lệnh cha anh… Tối, Hội Văn Nghệ Phú Yêu đãi đoàn tại Trung tâm giải trí & sinh thái Thuận Thảo – một “đại gia” địa phương – với “kính thưa các loại bánh” cùng bia. Chủ tịch Hội Văn Nghệ Phú Yên Nguyễn Ngọc Quang cùng Phó chủ tịch Hội Huỳnh Thạch Thảo tiếp đoàn. Xôm tụ hơn là cô Diệu Trang và cô “Nhậm Doanh Doanh” văn phòng “tiếp bia”. Nhắc Trần Huyền Ân (Trần Sĩ Huệ) mới biết “Nhậm Doanh Doanh” là con ông.

“Sống sót trở về”
Sau khi thăm Tháp Nhạn, Nguyễn Trung Nguyên rủ Đặng Hoàng Thám, Nguyễn Hồng Chuyên, Thành Nam “tiếp rượu” trả lễ Huỳnh Thạch Thảo. Chưa “đã”, ba mạng này kéo nhau đi karaoke. 12 giờ khuya, Đặng Hoàng Thám “sống sót trở về” báo cáo: Karaoke 95.000 đồng/giờ, bia Sài Gòn 20.000 đồng/chai. Tiệm có 3 em miền Tây đẹp não nùng. Hát một hồi, Thám “lặn” xuống đất, bảo vệ hỏi đi đâu, bảo đi toillet, hỏi sao không đi trên đó, bảo tao muốn đi đâu thì đi. Thấy bảo vệ mặt mày bặm trợn với mấy con chó berger hì hợm, Thám hoảng hồn nói mai tao đi công chuyện sớm chớ không phải đi chơi, cho tao ra. Không hiểu sao Thám qua lọt dãy hàng rào cao 2-3m của tiệm karaoke về phòng. Mừng quýnh!

Chia tay Phan Thiết
Tới Phan Thiết (Bình Thuận) vào lúc hoàng hôn. Ghé Hội Văn Nghệ Bình Thuận, được hướng dẫn tới khách sạn rồi đưa đi ăn tại khách sạn nhà hàng Bình Minh ở Đồi Dương. Tại đây có mặt Chủ tịch Hội Đỗ Kim Ngư, 2 phó chủ tịch Hội, Lê Nguyên Ngữ cùng 2 cô văn phòng “bụng to”. Lại đặc sản biển với bia. Sau đó, tôi hẹn Hồ Việt Khuê đến chơi. Anh ta đãi tôi, Đặng Hoàng Thám cùng 2 anh bạn địa phương của Thám cùng Nhật Hồng chầu bia Budweiser (Mỹ, 20.000 đồng/chai) với cá bò chiên. Chưa chịu thôi, rủ đi massage “rũ bụi đường xa”.

Mọi bữa 7-8 giờ sáng mới lên đường, vậy mà bữa nay sáu giờ sáng rời khách sạn, chẳng tham quan nơi nào của Phan Thiết cả, vì anh chị mệt muốn về nhà sớm! Chính vì vậy mà tôi đành khất Hồ Việt Khuê đừng chở Nguyễn Bắc Sơn đến như đã hẹn. Tiếc quá, không có dịp trò chuyện với tác giả “Chiến Tranh Việt Nam & tôi”!

Tổng kết chuyến đi, có thể nói bị “nghẹn” khá nhiều. Lý do là vì có mặt Hoài Tường Phong - nhà thơ “Trăng nghẹn” trong chuyến đi này./.
-------------

“Nhậm Doanh Doanh” quá sức “sung”!


Huỳnh Thạch Thảo cụng ly với “Ông Trăng nghẹn” trước sự “chứng giám” của Nhật Hồng


Đặng Hoàng Thám “sướng hé” khi quàng tay qua vai Hồng Thủy Tiên.

Võ Quê ca Huế trong quán cóc.


Thanh Quế say sưa “tám”.

Doãn Mãi “tiếp cận” Lê Chí.