Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009

Đà Lạt hoa



Về Đà Lạt giữa mùa hoa
Đồi cao lũng thấp nhạt nhòa mưa sương
Hoa trong vườn hoa trên tường
Và hoa nở cả bên đường cỏ xanh
Riêng em là hoa của anh
Nở thơm ngát cả mùa xanh cuối đời!



Đà Lạt, 8-11-2008

Nam Bộ - “vương quốc” mắm đồng




Miền Bắc nổi tiếng nhất với mắm tôm, mắm cáy, mắm rươi…; miền Trung phong phú với mắm nhum, mắm sò Lăng Cô, mắm ruột…; nhưng Nam Bộ mới chính là “vương quốc” mắm.

Dọc đường đi, bất cứ nơi nào, ở Nam Bộ, bạn cũng nghe mùi mắm đặc trưng phả thơm lừng trong không gian. Đó là mùi nước mắm mà hầu như ở đâu của địa phương này cũng đều có “hãng” sản xuất. Nước mắm nổi tiếng nhất ở Nam Bộ là “nước mắm hòn” (Phú Quốc) nhưng không vì thế mà lấn át được các hãng nước mắm trong đất liền. Trong khi Phú Quốc sản xuất nước mắm bằng nguyên liệu cá cơm thì trong đất liền ngoài ủ chượp loại cá này người ta còn làm nước mắm bằng cá linh đặc sản vùng tứ giác Long Xuyên. Hơn thế nữa, ở đây còn có loại nước mắm đồng, ngon không kém, được làm từ những con cá đồng.



Cũng làm thủ công dùng trong gia đình, dân miền Tây còn có đặc sản nước mắm cua đồng. Là động vật sống trong ruộng lúa, cua đồng dễ kiếm vào mùa mưa, nhất là khoảng tháng 9 tháng 10 Âm lịch. Cua đồng đem về nhà rửa sạch, giã nhuyễn, pha nước lạnh, lược lấy nước cua, trộn muối hột. Ủ 20 ngày sẽ có vị mặn dịu, hậu ngọt. Muốn nước mắm cua đồng thơm ngon thì thêm vài lát gừng hay ớt sừng chín đỏ. Nước mắm là dung dịch đạm mà chủ yếu là các acid amin được tạo thành do quá trình thủy phân protein cá (cua) nhờ hệ enzym protease có trong cá (cua). Nước mắm “thường” đã ngon mà nước mắm cua đồng lại càng ngon hơn. Nước mắm cua đồng giàu đạm, chất lượng hơn các loại nước mắm đã làm nên danh tiếng nước ta. Vì nước mắm cua đồng tươi múc ra chén tỏa mùi thơm, trong màu vàng ươm nổi lên lớp gạch cua bắt mắt. Nước mắm cua đồng ăn với bún và rau sống, ăn với cá kho thì ngon lắm. Nhưng tuyệt vời hơn, gặp ngày mưa rỉ rả, thức ăn khan hiếm, chỉ cần tô cơm nguội chan nước mắm cua đồng cũng thấy “đã” cái thần khẩu! Nhưng cầu kỳ hơn, tuyệt vời hơn là cách làm nước mắm cua gạch son của dân U Minh. Cua gạch son rửa sạch, cho vô hũ muối đúng 1 tuần, lấy ra đánh tan gạch cua với lòng đỏ trứng gà, đường. Một con cua chỉ làm được 4 chén nhỏ nước mắm. Loại này ăn với cái gì cũng ngon. Có lẽ vì vậy mà nó “õng ẹo”, chỉ ăn được vào ngày thứ bảy sau ủ chượp, sang ngày thứ 8 thì “vứt đi!

Ở Giồng Giếng (Ba Động, Duyên Hải, Trà Vinh) có nước mắm rươi - đặc sản tổ truyền. Từ tháng 10 đến tháng chạp Âm lịch, rươi nổi lên đỏ đặc mắt nước sông ven biển. Người địa phương dùng bất cứ dụng cụ nào “hớt” rươi về làm nước mắm. Tương truyền, khi Nguyễn Ánh lánh nạn về đây, được thưởng thức rồi mê mẩn nước mắm rươi luôn. Khi ông trở thành vua ngoài Huế, loại nước mắm sướng tê đầu lưỡi này trở thành “nước mắm ngự”.

Nước mắm Nam bộ còn phong phú trong cách ăn. Tùy theo món mà ăn với nước mắm cốt, nước mắm y hay nước mắm pha. Nước mắm pha cũng có nhiều kiểu cách tùy theo thức ăn. Thường người ta pha nước mắm với nước đun sôi để nguội, nhưng muốn có chén nước mắm pha “ra ngô ra khoai” thì phải dùng nước dừa xiêm. Dừa phải là dừa nạo, dừa non cho nước chua còn già rám thì nước chát. Nhưng nước dừa phải nấu cô lại trên bếp lửa liu riu mới ngon. Vừa đun vừa hớt bỏ bọt cho trong nước. Cầu kỳ là vậy để tăng thêm hương vị của món ăn. Món ăn dù ngon cách nào mà chén nước mắm trong hoặc chén nước mắm pha không đúng yêu cầu thì coi như chẳng còn “hồn vía” gì nữa!



Tham gia vào lĩnh vực nước chấm còn có con hàu. Loại nước chấm này mới có mặt ở Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu) trong vài năm nay nhưng đã “hút hồn” khách sành ăn. Lấy thịt hàu sữa rửa sạch, để ráo, trộn với muối, ớt bột, rượu cùng một ít gia vị khác rồi cho vào chai, đậy kín nắp. Hai mươi ngày sau, phần thịt nổi lên mặt, phần nước có màu đỏ tươi, đó là nước mắm hàu. Càng ủ lâu, nước mắm hàu càng ngon. Nước mắm hàu được người Côn Đảo pha với tỏi, ớt, chanh, đường, ăn với các món cuốn bánh tráng…

Có lẽ nhờ vậy mà từ nhiều chục năm nay nước mắm của ta đã vang danh trên thị trường ẩm thực thế giới. Người ngoại quốc đã gọi “chính danh” nó là “sauce nuoc mam”, thậm chí đơn giản với từ “nuocmam”, chứ không dùng từ “fish sauce” hay “la saumure” như trước.

Cua đồng đâu chỉ làm nước mắm, người Nam bộ còn làm thành mắm. Để có mắm cua đồng, người ta nướng cua chín vàng, tách bỏ mai, yếm, ngoe và phổi. Trộn cua với một nắm hương nhu (lá é trắng), chút nước mắm nhĩ, chút bột ngọt cùng ớt thật cay. Có nơi người ta dùng cua sau khi làm sạch đâm nát trước khi trộn với các gia vị vừa nêu. Chỉ cần “độc diễn” mắm cua đồng thôi là bữa cơm nhà nghèo đã ngon căng bụng.

Cũng như vậy, mắm ba khía đúng chấu cũng giúp bà con nông dân có bữa cơm đạm bạc nhưng ngon và giàu dinh dưỡng. Ở U Minh, Rạch Gốc (Cà Mau), ba khía thường “hội” trong 3-4 đêm tháng mười Âm lịch. Ba khía bắt về rửa sạch, thả trong khạp nước muối. Độ mặn của nước muối quyết định chất lượng mắm ba khía, đòi hỏi người làm phải có nhiều kinh nghiệm, làm ba khía “tới”, để càng lâu càng ngon. Ăn ba khía “trơn” đã ngon nhưng ngon hơn và đúng “bài bản” thì phải dùng ba khía trộn. Ba khía rửa với nước sôi, tách mai, đập sơ hai càng trộn với chanh, đường, tỏi, ớt, khóm bằm, xoài xắt sợi, khế hườm xắt sợi, cóc sống đập dập. Không được phép ăn liền, phải để ba khía ngấm gia vị một ngày mới thưởng thức trọn vẹn cái ngon… cầu kỳ. Nếu gặp ba khía có đùm trứng, món này sẽ ngon, nhưng đâu thể sánh bằng ba khía gạch son (màu đỏ) hoặc gạch bùn (màu xám), cả hai thịt chắc, mút nhẹ thịt ba khía trong càng, trong ngoe chạy “tuốt luốt” vô họng, tuyệt vô cùng. Đâu đã hết, nước ba khía trộn dùng để chấm các món luộc là “số dách”. Cũng tinh túy như vậy, đối với bọn “nhóc”, ăn ba khía chỉ cần lấy cái mai trộn với cơm nóng là đã thấy đã đời cái bụng rồi!

Mắm ruốc Bà Rịa Vũng Tàu trứ danh với khách sành ăn từ hơn nửa thế kỷ qua. Con ruốc giống con tép nhưng nhỏ như cọng tăm, chỉ có ở biển vào mùa mưa. Ruốc lựa thật sạch, ướp muối bọt 1 đêm trước khi phơi. Phơi ba tháng cho ráo nước, đem ruốc quết thật nhuyễn, cho vào lu, phơi nắng mỗi ngày. 45 ngày sau chao đường rồi ủ tiếp trong lu. 30 ngày sau vớt ra thau phơi 10 ngày là xong. Mắm ruốc rất dễ ăn. Đơn giản là đánh với trứng chiên hoặc hấp. Chịu khó với món ngon thì xào với ba rọi, sả, ớt để giành ăn lâu ngày. Khi ăn chỉ “quệt” miếng dưa leo xắt.

Nói đến mắm thì phải nói tới Châu Đốc (An Giang). Gọi Nam bộ là “vương quốc” mắm là chưa đúng, phải nói Châu Đốc là “vương quốc” của thức ăn để lâu ngày này mới chính xác. Cứ vào giữa tháng 10 đến tháng 11 Âm lịch, chấm dứt mùa nước nổi, bà con địa phương này bắt tay vào mùa mắm mới. Với ngư cụ truyền thống, họ đánh bắt các loại cá: sặc, rô, lóc, chốt, trèn… nhưng nhiều nhất là cá linh. Ngoài bán ngay ra thị trường, số còn lại họ ủ mắm. Ủ với thính, cho vô khạp với nước muối nấu sôi để nguội, gài kín miệng, 4-5 tháng sau lấy ra, để ráo nước, trộn với đường thốt nốt là đã có mắm ngon. Mắm làm bằng cá gì thì gọi tên loại cá ấy.

Chợ Châu Đốc là nơi bán ê hề nhiều chủng loại mắm, nhưng nổi tiếng nhất là mắm thái. Mắm được làm từ thịt mắm lóc xé thành từng miếng trộn với đu đủ mỏ vịt xắt sợi với kỹ thuật riêng. Mắm thái là món dễ ăn nhất, có thể ăn với bánh mì nóng, xoài sống, sầu đâu hoặc ăn với bún, thịt ba rọi, tép luộc cùng rau sống cuốn bánh tráng chấm nước mắm pha. Loại mắm nổi tiếng này ngày xưa càng nổi tiếng hơn với tên gọi “mắm ruột”, chỉ làm toàn bằng ruột cá lóc. Vì hiếm và rất đắt tiền nên loại mắm này chỉ dành cho giới quý tộc, quan lại... Ở Cà Mau, cũng có loại mắm như vậy, gọi là mắm lòng. Sau chụp đìa, cá lóc làm khô, bỏ đùm ruột. Uổng, người ta dùng bộ đồ lòng này làm mắm. Lựa lòng và đùm trứng cá lóc lớn , rửa sạch, để ráo, ướp muối và thính rồi cho vô gáo dừa, đậy kín, trước khi nhận vô hũ mắm, cài chặt bằng sống lá dừa. Khi ăn, móc gáo mắm khỏi hũ, gắp ruột cá, phần trứng bóp tơi, để vô dĩa. Mắm ăn với rau thơm, bún, thịt ba rọi luộc, chén nước mắm giấm tỏi ớt cùng dĩa bánh tráng cắt đôi phun sương cho dễ cuốn. Loại này nay chỉ dành ăn trong gia đình hoặc biếu tặng người thân.



Từ mắm cá lóc, người ta “biến thể” thành vài món ăn khoái khẩu như mắm chưng. Đầu mắm cho vô tô cùng gia vị, hấp chín chấm dưa leo ăn ngon không tả. Ngon hơn, người ta dùng thịt mắm đánh chung với hột vịt, ba rọi bằm cùng gia vị, chưng cách thủy. Món này ăn với dưa leo, cà chua để tủ lạnh cũng tê mê răng cỏ.

Mắm mặn là lẽ đương nhiên, nhưng với đầu óc tinh nhạy và kỹ năng ăn uống “cấp cao”, người dân ở đây đã sáng tạo loại mắm chua, ít phổ biến. Để làm mắm chua, thường dùng 1 ký cá sặt hoặc cá chốt, làm sạch, ngâm trong thau nước vo gạo. Khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, vớt ra rổ, để ráo khoảng 4 tiếng đồng hồ ở nơi có nắng. Sau đó đem trộn với khoảng 10 phần trăm muối cùng một ít riềng giã nhỏ, một chén thính, một ly rượu ngon, một viên men xiêm (loại men tán mịn). Mắm chua có mùi rất thơm, màu hơi xanh (không đỏ như mắm đồng), còn nguyên dạng con cá nhưng toàn bộ xương đã mềm. Mắm chua ăn kèm với vài trái bần hoặc vài trái ổi, thậm chí vài trái khế, vài trái chuốt chát, vài trái me xanh cũng được. Để tăng thêm hương vị và cho “dễ ăn”, nên có một nắm ớt hiểm xanh cùng một chai rượu đế để “hâm nóng” câu chuyện giữa bạn bè trong mâm. Gắp một con mắm chua cho vào miệng, cắn trái ớt hiểm và miếng ổi, nhai nghe vị mặn chua hòa trên mặt lưỡi. Rót ly rượu đế sủi tăm, đưa lên mội làm “cái trót” thì thật là ấm lòng.

Mắm nêm, mắm tép, mắm cá linh, mắm cá chốt, mắm sặt cũng đều là những thực phẩm để ăn lâu ngày của người dân vùng sông nước. Ngoài ăn sống, mắm sặt, cá linh còn được người ta dùng để nấu canh, xưa gọi là mắm kho , nay là lẩu mắm - một cuộc cách tân trong mỹ vị pháp của con người. Lẩu mắm lúc nào cũng nóng, làm cho thực phẩm đã pha chế luôn dậy mùi thơm của gia vị. Lẩu mắm là một sự ê hề những thực phẩm được phối hợp từ những con vật sống trên bờ (heo), dưới nước (ốc, lươn, tép, các loại cá: ba sa, ngát, bông lau...), và cả biển khơi (mực). Nhưng, ăn thuần những món này dù ngon cũng chỉ mới ngon một nửa. Cho nên lẩu mắm đòi hỏi cần phải có sự đa dạng của những “ngọn cỏ cọng rau” quê hương. Một dĩa rau đầy vun những càng cua, rau dừa, rau nhút, cải xanh, hẹ, rau đắng, cù nèo, rau mát, đọt chiết, khổ qua... làm bật nổi cái màu trắng đục sữa của những cọng giá mập mạp, cái màu trắng mịn màng của những cánh bông so đũa “khép nép” nằm ở một góc và “tràn” lên trên hết là cái màu vàng ngọt mắt như nắng phương Nam của những bông bí rợ, bông điên điển. Một tổng hợp rau phong phú được cho vào nồi mắm sôi ùng ục, liệu chừng hơi heo héo thì gắp ra, nhai... Lắng nghe cái ngọt của rau này hòa lẫn vị đắng của rau kia, lại điểm xuyết thêm cái cay nồng mà thơm của anh chàng ớt hiểm xanh sẽ khiến bạn ăn mê mệt. Vừa hít hà vừa đổ mồ hôi. Vâng, ăn lẩu mắm mà không đổ mồ hôi là... chưa “phê”. Bởi, nó là một món ăn giải nhiệt đại tài.

Ngoài “mắm nội”, người dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn dùng “mắm ngoại” - mắm prò-hóc của đồng bào Khmer Nam bộ. Loại mắm này đã làm nên danh tiếng món bún nước lèo Trà Vinh, Châu Đốc, Sóc Trăng, Cà Mau – dù mỗi địa phương cách nấu nướng mỗi nơi một kiểu. Không như Sóc Trăng và Cà Mau, Trà Vinh thì nấu nước lèo với prò-hóc làm từ mắm biển. Bún nước lèo Trà Vinh chính cống không ăn với thịt heo quay, tôm, bánh cống như hai địa phương bạn. Nhìn tô bún chỉ thấy toàn rau ghém và bún, vì thịt cá lóc đã đâm nát quậy nấu chung với nước lèo. Coi đơn điệu vậy mà ngon. Cũng với mắm prò-hóc này, dân Cầu Kè (Trà Vinh) còn có món canh sim lo nấu với bình bát (hoặc lá, nhất là bông ưng-à-co - mỏ quạ) với cá lóc, tép, nấm rơm, măng tre. Sim lo còn được nấu với bầu, rau đắng đất (hoặc rau đắng đồng). Món này ăn nóng với cơm nóng hoặc bún sẽ là một món mặn mà, khoái khẩu, khó quên…

Chưa hết, người ta còn dùng dưa gang, củ cải trắng, dưa leo nhận trong hũ mắm để có thức ăn vừa giòn vừa thơm đậm mùi đồng quê dân dã, gọi là dưa mắm. Dưa mắm làm bằng củ cải trắng, dưa leo thì ăn suông, còn dưa mắm làm bằng dưa gang ngoài ăn suông người ta còn ăn chung với thịt ba rọi xào cùng gừng xắt sợi. Các món ăn này khiến bữa cơm gia đình “hao” thấy rõ!

Câu chuyện vế mắm Nam bộ còn dài, xin mượn câu nói xưa để tạm kết luận bài viết này: “Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách trái tim mình khỏi quê hương được!” thành: “Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách mùi mắm khỏi tâm thức mình được!”./.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2009

Đêm Phan Thiết

Click lên hình để có bản phóng lớn


Hồ Hoàng phổ thơ PSL

Câu hát sum vầy

Click lên hình để có bản phóng lớn

Hồ Hoàng phổ thơ PSL

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2008

Khám phá Hòn Tre

Hòn Tre có tên Traksu, được Le Distour, người Pháp, khám phá từ khi nó mới chỉ có vài gia đình người Việt định cư. Hình dáng hòn đảo này được Le Distour cho đắp bằng ô dước tại ấp 1, nay vẫn còn. Còn sách “Gia Định thành thông chí” thì ghi đó là Đảo Tre với chú thích: ở biển phía Đông Nam trấn, chu vi 20 dặm, làm án ngoại cho hải cảng Kiên Giang…

Từ thành phố Rạch Giá (Kiên Giang) vượt khoảng đường gần 30 cây số bằng tàu cao tốc ra Hòn Tre mất khoảng một tiếng đồng hồ với giá vé 42.000 đồng. Mùa này biển êm như mặt hồ. Cô Thu Ba thường ra vô hòn cho biết, khi nào tàu chạy không thấy “cái đuôi” Hòn Đất nữa là tới Hòn Tre - thị trấn chính của huyện đảo Kiên Hải, gồm Hòn Tre, Hòn Sơn Rái (Lại Sơn), và quần đảo Nam Du với 21 đảo thuộc xã An Sơn và Nam Du - thời Pháp có tên là Poulo Dama, người địa phương quen gọi là Hòn Củ Tron.


Hòn Tre có ba ấp với vài ngàn dân. Tùy theo thế đất mà người ta cất nhà. Nhà áp sát biển, nhà cheo leo sườn núi lẫn bên tảng đá khổng lồ. Đường đi ngoằn ngoèo chân núi, quanh co sườn dốc cheo leo, khó đi nhưng ngoạn mục. Con đường chạy quanh hòn dài 12 cây số, rộng khoảng 4 mét bằng bê tông xi măng được khởi công vào đầu năm 2007, sẽ hoàn thành vào cuối năm nay với kinh phí 80 tỉ đồng từ Chương trình biển Đông - biển đảo của Bộ Quốc phòng.

Men theo con đường này, du khách dễ choáng ngợp vì cảnh đẹp của Hòn Tre. Một bên là vách núi cheo leo, đầy bóng cây xanh; một bên là vực biển sâu hun hút. Qua những tàng cây cao, từ chân hòn đá tảng chất chồng, biển xanh ngắt một màu…

Dinh Ông Nam Hải thờ bộ xương cá Ông dài 9,4 mét, ngang 3,8 mét, trọng lượng khi còn sống là 5 tấn. Ngày 26-4 Âm lịch hàng năm (ngày Ông lụy, năm 2006), dân đi biển tổ chức lễ giỗ rất trang trọng với niềm tin sẽ được Ông phò hộ an lành và may mắn. Gần đó có hòn đá Bà Già nằm bên chân sóng. Nhìn từ bờ, hòn đá giống chiếc cúp. Nếu đi ghe sẽ thấy hòn đá có bộ mặt nhăn nheo như mặt bà già.

Đi chệch thêm trăm mét gặp Thiên Thai cổ tự nằm bên chân núi. Chùa do cha cô Lan lập ra, sau này do cô trụ trì nên người ta còn gọi là chùa cô Lan. Rồi gặp Sơn Linh tự. Tiếng gọi là chùa nhưng thật ra đây chỉ là một hang núi nhỏ, sát chân núi, bên đường. Khom người vào hang một chút sẽ nghe hơi nước mát lạnh từ ngọn suối gần đó phả ra. Đi mút con đường, bạn sẽ thỏa thích khi đến Đuôi Hà Bá.

Anh Nguyễn Tấn Cương, làm việc ở Ban Tuyên giáo huyện Kiên Hải, giải thích: “Nhìn từ Rạch Giá, Hòn Tre như con rùa biển khổng lồ. Hòn có đầu rùa, mình rùa nhưng đuôi chè bè, không phải đuôi rùa. Theo dân gian, hà bá là con vật gắn liền với biển nên người ta gọi nơi này là Đuôi Hà Bá”. Đuôi Hà Bá là biển nước sâu, đón gió Nam. Từ đây có thể nhìn thấy Lại Sơn và quần đảo Nam Du. Nơi cuối gành, phải cẩn trọng đặt chân lên từng hòn đá cheo leo, trắc trở trước khi đến những hòn đá bàn. Ngồi trên mặt đá phẳng lì, thả cần câu, nghe gió muối mặn từ khơi xa thổi vào, nghe tiếng ve râm ran át cả tiếng máy khoan đá làm đường.

Cầu khỉ đi vào Động Dừa

Nhưng thích thú hơn cả là Bãi Chén của Hòn Tre. Bãi Chén có cảnh vật đẹp và hoang sơ. Bãi cát vàng. Nước xanh. Theo truyền thuyết, Nguyễn Ánh đã bỏ lại rất nhiều chén ở nơi này để tháo chạy khi bị quân Tây Sơn truy bắt. Nhưng người ta gọi tên như vậy có khi vì cái vịnh biển này có nhiều hòn đá to tròn giống như cái chén úp nằm khắp nơi. Xung quanh các hòn đá này, bám dày đặc những con hàu nhỏ cỡ đầu ngón tay cái, gọi là hàu sữa. Chỉ cần đặt nhúm lá dừa vào đó, mồi lửa, thời gian chưa tàn điếu thuốc, những con hàu há vỏ, dùng dao tách lấy thịt là đã có món ăn ngọt ngào của loài nhuyễn thể.

Trên vịnh biển, ghe đánh cá dập dềnh. Đôi vợ chồng Trương Hồng Hải - Nguyễn Thị Loan đang đánh lưới nổi cá đối. Anh Hải cho biết làm nghề này từ lâu lắm rồi, mỗi ngày làm từ 8 giờ sáng tới 1 giờ chiều, bán cho du khách hoặc đem ra chợ bán, tệ lắm cũng kiếm khoảng 200.000 đồng, có hôm trúng được tới 500.000 đồng. Chị Loan đưa thùng cá cho xem. Những con cá đối trắng bạc quẫy cựa liên hồi, giá 25.000 đồng/ki lô gam. Cân xong, hai vợ chồng nhanh tay bẻ củi, chất lên tảng đá, đốt lửa. Lửa tàn, họ đặt từng con cá trên than đỏ lòm. Cá chín, gắp để lên mặt tấm lá chuối xanh dờn chấm muối ớt. Lai rai với ly rượu đế đục ngầu, nghĩ mà nhớ cái thời cha ông đi khẩn hoang!

Vợ chồng ngư phủ nướng cá đối

Đi về Bãi Chén có hai đường. Đường xuyên núi sẽ gặp Hòn Đá Chuông. Hòn đá này có hình tam giác không cân, nằm lẫn với nhiều hòn đá khác. Cầm viên đá gõ vào sẽ nghe tiếng kêu thanh như tiếng chuông. Còn gõ vào các hòn đá kế cận thì chẳng nghe thấy gì.

Đường quanh co, khúc khuỷu, lên xuống dốc, băng qua những mảnh vườn xanh um, mát rượi. Mùa nào thức nấy: xoài cát, xoài hòn, mãng cầu, hồng quân, nhãn, thanh long… Điều lạ lùng là trái cây trên đảo có hương vị ngọt ngon hơn ở những nơi khác.

Đi đường này mất cả tiếng đồng hồ. Còn về theo ngả Động Dừa thì bằng xuồng máy, 15 phút là tới Động Dừa. Rời xuồng, đặt chân lên những tảng đá chất chồng, lại cẩn trọng làm cuộc mạo hiểm trên mấy thân tre khô của chiếc cầu khỉ dài trăm mét để vào bờ. Băng hẻm núi nhỏ chừng mươi phút thì tới trung tâm thị trấn.

Ngày nắng hanh hao. Đang mùa ve sữa. Đêm đêm, hầu như dân cả thị trấn xúm nhau lên núi tìm bắt loại côn trùng này. Với ngọn đèn pin, họ tìm bắt những con vật nhỏ cỡ ngón tay trỏ từ dưới đất chui lên, bò trên thân cây. Chị Trần Thị Thoa, người chuyên bán ve sữa, cho biết: “Nếu không bị bắt, trong chốc lát ve sữa sẽ mọc cánh trở thành ve sầu. Ve sữa sau khi bắt được cho vô thùng nước để không mọc cánh, đem về luộc nước muối giữ trắng”.

Ở Hòn Tre chỉ có vài ba người thu gom ve sữa bán, mỗi người có chừng hai ba ký lô là cùng, giá 70.000 đồng/ki lô gam (năm ngoái giá cao nhất là 40.000 đồng/ki lô gam). Ve sữa ram mặn, ướp mắm muối chiên tươi, cắn cái “bụp”, nghe mùi thơm đặc trưng và chất béo của ve thấm đẫm tới chân răng. Ve sữa là đặc sản độc đáo chỉ riêng Hòn Tre mới có. Mùa ve sữa rất ngắn, khoảng một tuần lễ. Khi mưa xuống là dứt.

Tạm biệt Đảo Tre, chợt nhớ sách “Gia Định thành thông chí” ngày xưa từng viết: “Ở biển phía Đông Nam trấn, chu vi 20 dặm, làm án ngoại cho hải cảng Kiên Giang”…